- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2018/HSST Ngày 22/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP -TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vàng A Hý;
- Ông Hoàng Xuân Quyết.
Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyên NP, tỉnh Điện Biên; Mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2018/HSST ngày 03/5/2018 đối với bị cáo:
Hoàng Văn T sinh năm: 1987 tại Thị xã L – Điện Biên.
Nơi ĐKHKTT: Bản O, xã N, Thị xã L, tỉnh Điện Biên Nơi tạm trú: Bản K 1, xã K, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Nhân viên thư viện; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị T; Có vợ: Hoàng Thị P sinh năm 1985 và 01 con sinh năm 2014. Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2018, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo Hoàng Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện NP truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 15/01/2018, Tổ công tác Công an huyện NP đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực bản K 1, xã K, huyện NP đã phát hiện trong nhà Hoàng Văn T có nhiều biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã vào nhà Hoàng Văn T kiểm tra hành chính phát hiện T và một người đàn ông, thấy tổ công tác vào thì người đàn ông bỏ chạy, còn T cho gói ni lông màu hồng vào miệng nhai sau đó vứt vào góc bếp. Tổ công tác đã yêu cầu T nhặt gói ni lông màu hồng lên mở ra kiểm tra, bên trong có chứa chất bột màu trắng đục, T khai đó là Heroine do T mua một người phụ nữ dân tộc Dao khoảng 60 tuổi không quen biết tại khu vực bản C 1 xã H, huyện NP vào ngày 14/01/2018 với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 Lường Văn Phanh đến nhà đưa cho T 100.000đ để mua ma túy, T nhận tiền và cho vào túi quần đang mặc trên người. Sau đó T lấy 02 gói Heroine được gói trong giấy ni lông màu hồng định đưa cho Phanh thì bị tổ công tác phát hiện nên T đã cho 02 gói Heroine vào miệng nhai sau đó ném ra góc bếp để tránh bị phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ 02 gói Heroine và 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
Tại biên bản mở niêm phong ngày 16/01/2018 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, số Heroine của Hoàng Văn T có khối lượng là 0,43 gam.
Tại bản kết luận giám định số 237/GĐ - PC54 ngày 25/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được trích ra từ vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T là chất ma túy: Loại Heroine.
Cáo trạng số: 15/CT-VKSNP ngày 03 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên truy tố bị can Hoàng Văn T về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251/BLHS.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, xử phạt Hoàng Văn T mức án từ 24 đến 30 tháng tù; Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS để xử lý vật chứng; Không đề suất áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội của bị cáo Hoàng Văn T:
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T đã thành khẩn khai nhận: Ngày 15/01/2018 Hoàng Văn T đã bị tổ công tác Công an huyện NP bắt quả tang khi đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho một người nghiện tại nhà của bị cáo, thu giữ 0,43 gam Heroine. Vậy có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Hoàng Văn T đã có hành vi phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251/BLHS.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Bị cáo T là người nghiện ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép các chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng và bán lẻ cho người nghiện để kiếm lời.
Xét nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn T từ nhỏ được bố mẹ cho ăn học hết 12/12, do không chịu rèn luyện bản thân, ham chơi đua đòi nên bị cáo đã nghiện ma túy. HĐXX thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Hoàng Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Vì vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra nhằm giữ vững kỷ cương pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.
Đối với người phụ nữ dân tộc Dao khoảng 60 tuổi đã bán ma túy cho Hoàng Văn T, do không rõ tên, địa chỉ nên không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với đối tượng Lường Văn P đến nhà bị cáo mua ma túy theo lời khai của bị cáo T, qua điều tra xác minh làm rõ tên tuổi, địa chỉ của Lường Văn Phanh. Tại cơ quan điều tra Lường Văn Phanh không thừa nhận hành vi mua ma túy của T. Vì vậy không đủ căn cứ để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lường Văn Phanh.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251/BLHS, xét thấy bị cáo Hoàng Văn T, có hoàn cảnh gia đình khó khăn không có khả năng thi hành nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung.
Vật chứng vụ án: gồm 0,43 gam Heroine (Đã trích mẫu gửi giám định 0,12 gam không hoàn lại) và số tiền 100.000đ thu giữ của Hoàng Văn T; Cần áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu hủy số Heroine và tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền do bán ma túy mà có.
Về án phí: Căn cứ Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS; xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, kể từ ngày bắt: 15/01/2018.
2.Vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, b khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,31 gam Heroine và và tịch thu số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của bị cáo T sung công quỹ Nhà nước (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NP).
3. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo ; - VKSND huyện NP; - CQĐT Công an huyện NP; - Nhà tạm giữ Công an huyện NP; - THAHS huyện NP; - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và THA Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện NP; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |