- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng ThànhN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2018/HS-ST Ngày: 18 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Sơn
Ông Vũ Văn Quý
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa:
Bà Lý Hòa - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2018, tại hội trường nhà văn tổ dân phố Sau, phườngL thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2018/ TLST-HS, ngày 16 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣơng ThànhN, sinh ngày 31/3/1984 tại phườngL, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phườngL, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T, và bà Đào Thị D; có vợ: Đặng Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 6 năm 2018 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên- bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người chứng kiến: 1. Anh Ngô Văn L, sinh năm 1995/ vắng mặt. Trú tại: Xóm X, xã T, huyện S - Hà Nội. 2. Ông Đinh Minh S, sinh năm: 1960/ vắng mặt. Trú tại: Tổ 03 T, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 8 giờ 55 phút ngày 19/6/2018, tại khu vực tổ dân phố Sau, phườngL, thành phố S, tổ công tác Công an thành phố S phối hợp cùng công an phườngL phát hiện Lương ThànhN có hành vi tàng trữ 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy). Ngoài ra còn tạm giữ củaN 01 xi lanh nhựa loại 3ml, 01 ống nước cất nhãn hiệu Novocain.Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng theo quy định.
Tiến hành cân vật chứng xác định số chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc thu giữ của Lương ThànhN có tổng khối lượng là 0,265 gam.
Tại bản kết luận giám định số 807/KL-PC54 ngày 26/6/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong mẫu A thu giữ của Lương ThànhN là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,265 gam.
Quá trình điều tra xác định được do bản thân là người nghiện ma túy, khoảng 7 giờ ngày 19/6/2018,N đi bộ từ nhà ra khu vực gầm cầu vượt nút giao quốc lộ 3, thuộc TDP Sau, phườngL rồi đi nhờ xe mô tô của người đi đường đến một quán nước gần trung tâm Methadone phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên thì xuống xe, tại đâyN đưa cho một người người đàn ông không quen biết 200.000 đồng và nhờ người này mua hộ Heroine để sử dụng. Khoảng 20 phút sau, người này quay lại đưa choN 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu trắng.N cầm ma túy cất giấu vào túi áo ngực đang mặc và đi mua xilanh, nước cất, sau đóN đi nhờ xe của 01 người đi đường về khu vực gầm cầu vượt thuộc tổ dân phố Sau, phườngL, thành phố S để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Lương ThànhN đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 15/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố S truy tố bị cáo Lương ThànhN ra trước TAND thành phố S để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 BLHS. Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, kết luận hành vi của bị cáo Lương ThànhN đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lương ThànhN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLSHS xử phạt bị cáo Lương ThànhN từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáoN.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong chất ma túy kí hiệu A; 01 bì niêm phong kí hiệu A1 bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc và 01 bì niêm phong ký hiệu N; 01 xi lanh nhựa loại 03ml chưa qua sử dụng; 01 ống nước cất nhãn hiệu Novocain chưa qua sử dụng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định. Tuyên bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác của vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 7 giờ ngày 19/6/2018,N đến một quán nước gần trung tâm Methadone phường Tân Thành, thành phố Thái Nguyên nhờ một người không quen biết mua hộ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được gói ma túy Hêrôin có khối lượng 0,265 gam,N cất giấu gói ma túy vào túi áo ngực đang mặc và đi mua xilanh, nước cất, sau đóN về đến khu vực gầm cầu vượt thuộc tổ dân phố Sau, phườngL, thành phố S tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lương ThànhN đã phạm vào Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ...Hêrôin... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS viện dẫn ở trên.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lương ThànhN là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng; xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp khiến dư luận quần chúng bất bình. Vì ma túy là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm, con đường lây nhiễm nhiều bệnh nan y, là nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Mặt khác ma túy còn hủy hoại sức khỏe, kinh tế của chính người nghiện. Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành người lương thiện, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung đối với mọi người.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó trong lượng hình, HĐXX đã có xem xét giảm nhẹ phần nào mức hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo mua ma túy về sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán cho người khác thu lời bất chính và bị cáo không có điều kiện, khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử lý vật chứng như sau:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong chất ma túy kí hiệu A; 01 bì niêm phong kí hiệu A1 bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc và 01 bì niêm phong ký hiệu N; 01 xi lanh nhựa loại 03ml chưa qua sử dụng; 01 ống nước cất nhãn hiệu Novocain chưa qua sử dụng.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về nguồn gốc ma túy (Hêrôin) bị cáo khai nhờ một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mua hộ, do vậy cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng ThànhN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lương ThànhN 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2018.
Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong chất ma túy kí hiệu A; 01 bì niêm phong kí hiệu A1 bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc và 01 bì niêm phong ký hiệu N; 01 xi lanh nhựa loại 03ml chưa qua sử dụng; 01 ống nước cất nhãn hiệu Novocain chưa qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/ 2018 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lương ThànhN phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND TP. Sông Công; - Cơ quan CSĐT CA TP. Sông Công; - CQTHAHS Công an TP. Sông Công; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; - CC T.H.A DS TP. Sông Công; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hữu Nhƣờng |