- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T phạm tội Vi phạm điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T, phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2018/ HS-ST Ngày 28/6/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ông Cầm Văn Thăm
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Ó, Bà Đinh Thị Minh Thúy.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Khánh Hòa - thƣ ký TAND huyện Phù Yên, Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La: Ông Đinh Văn Thu, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 28/6/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/TLST-HS ngày 31/5/2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 42/2018/QĐXXST-HS ngày 14/6/2018 đối với bị cáo Đinh Văn T, sinh 9/5/1980. Nơi cƣ trú Bản Chƣợp xã Tƣờng Thƣợng, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; tôn giáo: không; Quốc tịch Việt Nam; dân tộc Mƣờng; trình độ học vấn 9/12; con Ông Đinh Văn Dòng, con Bà Đinh Thị Un, vợ Lò Thị Vấn. Tiền án, tiền sự không; không bị bắt tạm giữ, tạm giam (có mặt tại phiên tòa).
- Người bị hại: Bà Lò Thị C (đã chết). Ngƣời đại diện theo pháp luật của bị hại là Anh Đinh Văn Ng (con bà C), sinh năm 1980 trú tại Bản B1 xã Huy H, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (có mặt tại phiên tòa).
- Người có QLLQ: Lò Thị L, sinh năm 1993 trú tại Bản C2 xã Tƣờng Th, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 15 giờ ngày 15/02/2018 Đinh Văn T sau khi uống rƣợu ở bản C xã Tƣờng Th xong, đã điều khiển xe mô tô BKS 26D1- 10632 đi theo Quốc Lộ 37 vào trung tâm thị trấn Phù Yên, khi đến Km 384+420 thuộc địa bàn Bản B1 xã Huy H, do đã sử dụng rƣợu từ trƣớc nên hoa mắt, buồn ngủ không làm chủ tay lái, đi không đúng làn đƣờng, phần đƣờng quy định, dẫn đến đâm vào Bà Lò Thị C đang đi bộ ngƣợc chiều. Hậu quả Bà C tử vong, còn T đƣợc đƣa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa 2 huyện Phù Yên điều trị từ ngày 15/02 đến 23/01/2018 xuất viện.
Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng vụ tai nạn xác định đƣợc đoạn đƣờng thẳng, rải nhựa áp phan mặt đƣờng có vạch sơn phân đƣờng thành hai chiều, mặt đƣờng rộng 5,6m phần đƣờng bên phải rộng 2,9m, lề đƣờng rộng 2,3m (hƣớng Gia Phù vào Thị trấn); phía lề đƣờng bên trái rộng 1,2m tiếp giáp là rãnh thoát nƣớc rộng 1,1m sâu 0,4m. Tại hiện trƣờng xác định có 05 vị trí là dấu vết của vụ tai nạn để lại gồm vết trƣợt lốp, vết cày số 1 và số 2, vết màu nâu (máu) và chiếc xe BKS 26D1-10632 nằm trên lề đƣờng bên phải theo chiều đi từ Gia Phù vào trung tâm thị trấn Phù Yên, dựa vào các dấu vết để lại tại hiện trƣờng xác định đƣợc lỗi do Đinh Văn T đi không đúng phần đƣờng theo chiều đi của mình.
Ngày 15/02/2018 Cơ quan cảng sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã quyết định trƣng cầu giám định nguyên nhân chết đối với Bà Lò Thị C. Tại bản kết luận số 24/TT ngày 23/02/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: Nguyên nhân chết đa chấn thương, chấn thương sọ não kín vỡ xương trán, thái dương phải do va đập là nguyên nhân gây tử vong.
Đối với Đinh Văn T khi tham gia giao thông đƣờng bộ không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, khi điều khiển xe có sử dụng rƣợu nồng độ cồn trong máu 215miligam/100 mililít máu và có nồng độ cồn trong khí thở là 0,524miligam/1lít khí thở đã vi phạm vào khoản 8, 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đƣờng bộ.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ tai nạn sẩy ra, gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận mức bồi thƣờng chi phí mai táng phí các khoản cho nhau với số tiền 60.000.000đ. Ngoài ra không thỏa thuận gì thêm
Về chiếc xe mô tô BKS 26D1-10632 cơ quan CSĐT xác định đƣợc đây là chiếc xe của Chị Lò Thị L đã gửi giữ hộ, trƣớc khi chị L đi làm công ty, không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 25/5/2018 VKSND huyện đã có quyết định xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Lò Thị L.
Từ các căn cứ và hành vi nêu trên VKSND huyện Phù Yên đã có bản cáo trạng số: 27/CT-VKS-PY ngày 31/5/2018 truy tố Đinh Văn T về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 BLHS
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị HĐXX. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260 Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ, các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Đinh Văn T 36 tháng tù cho hƣởng án treo.
Về vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thƣờng dân sự: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS; khoản 2 Điều 47 BLHS chấp nhận cơ quan VKSND đã quyết định trả lại vật chứng và cơ quan điều tra Công an huyện đã trả lại tài sản là 01 chiếc xe mô tô BKS 26D1-10632 cho Chị Lò Thị L là chủ sở hữu hợp pháp và chấp nhận sự tự nguyện bồi thƣờng tiền chi phí mai táng phí các khoản của bị cáo với gia đình ngƣời bị hại số tiền 60.000.000đ.
+ Án phí HSST bị cáo phải chịu theo quy định chung của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định:
[-] Về hành vi quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng đƣợc quy định trong BLTTHS, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[-] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận khi tham gia giao thông bản thân không có giấy phép lái xe theo quy định, có sử dụng rƣợu khi lái xe, không làm chủ đƣợc tay lái, dẫn đến gây tai nạn giao thông đâm vào ngƣời đi bộ, hậu quả làm chết ngƣời, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, làm ảnh hƣởng xấu đến công tác phòng chống tội phạm tại địa phƣơng, do đó việc Tòa án đƣa bị cáo ra xét xử là hoàn toàn có căn cứ pháp luật xử đúng ngƣời, đúng tội không oan sai.
Tại khoản 2 Điều 260 BLHS quy định: “ phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm'
a, Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b, Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác.
[-] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[-] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: bị cáo không có tiền án, tiền sự, có địa chỉ và nơi ở rõ ràng, chấp hành tốt chính sách của đảng pháp luật của nhà nƣớc, khi phạm tội đã tự nguyện bồi thƣờng thiệt hại, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội với lỗi vô ý, đƣợc gia đình ngƣời bị hại có đơn xin giảm hình phạt tù, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS cần xem xét áp dụng.
[-] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Sau khi tai nạn sẩy ra gia đình bị cáo cùng với gia đình ngƣời bị hại đã tự nguyện thỏa thuận và thống nhất mức bồi thƣờng mai táng phí các khoản với tổng số tiền 60.000.000đ (đã bồi thƣờng xong). Riêng tài sản là 01 chiếc xe mô tô BKS 26D1-10632 do bị cáo điều khiển gây ra tai nạn, cơ quan điều tra đã xác minh đƣợc chiếc xe mô tô trên là xe của chị Lò Thị L đã gửi để bị cáo quản lý trƣớc khi chị L đi làm công ty, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do đó VKSND có quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp và cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại, việc trả lại tài sản là đúng quy định của PL Tòa cần chấp nhận.
Trƣớc khi mở phiên tòa ngƣời có QLLQ là Chị Lò Thị L, có đơn xét xử vắng mặt Tòa cần căn cứ khoản 1 Điều 292 BLTTHS vẫn tiến hành xét xử.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và xin đƣợc hƣởng án treo. Ngƣời đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm, đồng thời đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Kiểm sát viên, thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa đề nghị HĐXX:
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260 Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Đinh Văn T 36 tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
- Chấp nhận cơ quan CSĐT Công an huyện đã trả lại 01 chiếc xe mô tô BKS 26D1-10632 cho Chị Lò Thị L là chủ sở hữu hợp pháp và chấp nhận gia đình bị cáo, gia đình ngƣời bị hại đã tự nguyện bồi thƣờng tiền chi phí mai táng phí các khoản cho nhau với số tiền 60.000.000đ.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ pháp luật. HĐXX thấy chƣa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, việc không bắt bị cáo đi cải tạo giáo dục cũng không ảnh hƣởng xấu đến công tác phòng chống tội phạm nói chung và Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông nói riêng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định chung của pháp luật. Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T, phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; khoản 2 Điều 47; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS; khoản 2 Điều 135; khoản 3 Điều 106; khoản 2 các Điều 135, 136, 331, 333 BLTTHS; Khoản 1 các Điều 21, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí:
- Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/6/2018.
Giao bị cáo Đinh Văn T về cho UBND xã Tƣờng Th, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La quản lý giám sát và giáo dục. Gia đình ngƣời bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát và giáo dục ngƣời đó. Trong trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
- Chấp nhận cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã trả lại 01 chiếc xe mô tô BKS 26D1-10632 cho Chị Lò Thị L là chủ sở hữu hợp pháp và chấp nhận gia đình bị cáo và gia đình ngƣời bị hại, đã tự nguyện bồi thƣờng tiền chi phí mai táng phí cho nhau với tổng số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng).
- Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, đại diện ngƣời bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La để xét xử phúc thẩm. Riêng ngƣời có QLLQ có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận đƣợc bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tƣ pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Phù Yên; - Chi cục THADS Phù Yên; - Công an huyện Phù Yên; - Bị cáo; đại diện ngƣời bị hại; - Ngƣời có QLLQ; - THAHS; - Lƣu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Toạ phiên toà Đã ký Cầm Văn Thăm |