vanban.org

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hồ Thị Kim T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kim T được ly hôn anh Nguyễn Trọng N. Về con chung: Chị Hồ Thị Kim T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 21/9/2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Kim T yêu cầu ly hôn Nguyễn Trọng N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hồ Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13-6-2018
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đại Hải

2. Bà Phan Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Huân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 23/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2018 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Kim T, sinh năm:1989

Hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã P, huyện S, tỉnh Quảng Nam.

Nơi cư trú: Số 2192 V, tổ dân phố O, phường L, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng N, sinh năm: 1985

Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Hồ Thị Kim T trình bày: Chị và anh Nguyễn Trọng N tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau vào năm 2011 và được Ủy ban nhân dân phường T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 95 ngày 04/10/2012. Cuộc sống của chị và anh N không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị và anh N bất đồng quan điểm sống nên thường cãi vã và xúc phạm nhau. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng chị và anh N vẫn không hàn gắn được. Hiện nay, chị và anh N mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay mâu thuẫn giữa chị và anh N đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh N.

- Về con chung: Chị và anh N có một con chung Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 21/9/2010. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị T. Về hôn nhân: chị T được ly hôn anh N; về con chung: chị T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 21/9/2010, anh N không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

* Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Trích lục kết hôn của chị T và anh N; Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Ngọc H; Sổ hộ khẩu, chủ hộ tên Nguyễn Thành T; Sổ hộ khẩu, chủ hộ tên Hồ Đức P; Chứng minh nhân dân mang tên chị T và anh N; Đơn xin lưu trú của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hồ Thị Kim T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố R giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị và anh Nguyễn Trọng N. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố R.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn anh N nhưng anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị T và anh N tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và được Ủy ban nhân dân phường T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 95 ngày 04/10/2012 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng chị T, anh N sống không hạnh phúc, vì vợ chồng anh chị bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra cãi vã và xúc phạm nhau. Tại Biên bản xác minh ngày 25/01/2018, chính quyền địa phương cung cấp: “Chị Hồ Thị Kim T và anh Nguyễn Trọng N sau khi kết hôn thì thuê phòng trọ sống với nhau tại tổ dân phố O, phường L, thành phố R. Trong quá trình sống chung vợ chồng họ xảy ra chuyện gì dẫn đến việc ly hôn, chính quyền địa phương không được biết, vì họ không nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Hiện nay anh Nguyễn Trọng N không còn sống tại phòng trọ ở tổ dân phố O, phường L mà đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống ở tại tổ dân phố Đ, phường C”. Bản thân chị T sống lưu trú tại phòng trọ của ông Nguyễn Văn K ở tổ dân phố O, phường L từ ngày 05/5/2017 cho đến nay. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị T anh N không tìm cách để hàn gắn mà mỗi người sống một nơi làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh N đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng anh N không chấp hành, thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc cuộc sống hôn nhân của anh chị. Xét thấy: Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T yêu cầu được ly hôn với anh N là có cơ sở, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T.

Về con chung: Chị T và anh N có 01 con chung Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 21/9/2010. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Xét: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục sau khi bố mẹ ly hôn là nhằm phát triển tốt cho con cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Bản thân cháu H là nữ, có nguyện vọng được sống với mẹ, hiện tại cháu cũng đang sinh sống với mẹ nên cần sự chăm sóc, giáo dục của mẹ để cháu phát triển toàn diện về tâm sinh lý. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, cần giao cháu H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn”.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hồ Thị Kim T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kim T được ly hôn anh Nguyễn Trọng N.

2. Về con chung: Chị Hồ Thị Kim T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 21/9/2010.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hồ Thị Kim T về việc không yêu cầu anh Nguyễn Trọng N cấp dưỡng nuôi con.

* Vì lợi ích của con, hai bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Chị Hồ Thị Kim T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí: Chị Hồ Thị Kim T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0012131 ngày 22/01/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R. Chị T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Chị Hồ Thị Kim T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Trọng N có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ