vanban.org

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Dương Văn L.

Về con chung: Xử giao con chung Dương Hoàng Đ, sinh ngày 13-02-2004 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị H xin tự giải quyết với anh L nên Tòa án không xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, người kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn tranh chấp về nuôi con giữa chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Dương Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/HNGĐ-ST
Ngày 17-8-2018
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Khanh

Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn -Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2018 về ly hôn và tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2018/QĐST- HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H; đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 2, thôn HD , xã CH, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn TA, xã CM, huyện VB thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Dương Văn L; nơi cư trú: Xóm 2, thôn HD , xã CH, huyện VB, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày: Chị và anh Dương Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CM, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 16-10-1997. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh L nghiện ma túy và thường xuyên đánh đập chị. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng vào đầu năm 2018 do chị bị anh đánh đập, nên chị đã bỏ về bố mẹ đẻ ở thôn TA, xã CM, huyện VB thành phố Hải Phòng. Từ đầu năm 2018 đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Văn L.

Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung là Dương Thùy D , sinh ngày 03-10-1997 đã trưởng thành và Dương Hoàng Đ , sinh ngày 13-02-2004, hiện đang ở với anh L . Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Dương Hoàng Đ . Việc cấp dưỡng nuôi con, chị xin tự giải quyết với anh L .

Về tài sản: Chị xin tự giải quyết với anh L , không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Dương Văn L hiện nay cư trú tại thôn HD, xã CH, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Anh L đã được thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án, tuy nhiên anh L không nộp bản tự khai và cố tình không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, xác minh nơi cư trú của anh Dương Văn L, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh L qua chính quyền địa phương xã Cộng Hiền, qua người làm chứng - ông Dương Văn T (bố đẻ anh L ) và bà Trịnh Thị S (mẹ đẻ chị H ) thì được biết: Chị H và anh L xây dựng gia đình với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CM, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 16-10-1997. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận được thời gian đầu và có 02 con chung. Mâu thuẫn vợ chồng anh L và chị H phát sinh từ năm 2015 do anh L nghiện ma túy và thường xuyên đánh đập chị H . Từ đầu năm 2018 đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Về con chung: Anh L và chị H có 02 con chung Dương Thùy D , sinh ngày 03-10-1997 đã trưởng thành và Dương Hoàng Đ , sinh ngày 13-02-2004, hiện đang ở với anh L . Về tài sản: địa phương và người làm chứng đều không nắm được.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng mặt bị đơn cũng như các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn chấp hành yêu cầu của Tòa án về việc giao nộp chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa; bị đơn không khai báo, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa. Tuy nhiên, việc bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Dương Văn L. Về con chung: Giao con chung Dương Hoàng Đ, sinh ngày 13-02-2004 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chị H tự giải quyết với anh L nên không đặt ra để giải quyết. Về tài sản: Chị H xin tự giải quyết với anh L về tài sản nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Anh Dương Văn L đang cư trú tại thôn HD, xã CH, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn anh Dương Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh L vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Văn L.

- Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn L kết hôn ngày 16-10-1997, có đăng ký kết hôn tại UBND xã CM, huyện VB, thành phố Hải Phòng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do anh L nghiện ma túy và thường xuyên đánh đập chị H . Nay chị H nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L . Quá trình giải quyết vụ án anh L không khai báo, không tham gia phiên họp, hòa giải, phiên tòa. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H , anh L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu của chị Hoàng Thị H xin ly hôn với anh Dương Văn L phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.

Về con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Dương Văn L có hai con chung là Dương Thùy D , sinh ngày 03-10-1997 đã trưởng thành và Dương Hoàng Đ , sinh ngày 13-02-2004, hiện đang ở với anh L . Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao con chung Dương Hoàng Đ cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Xét yêu cầu, đề nghị nuôi con của chị H , Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ vào điều kiện nuôi con của chị H và anh L thì thấy: Chị H có nơi ở và thu nhập ổn định. Mặt khác con chung Dương Hoàng Đ có nguyện vọng xin được ở với chị H . Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con cần chấp nhận yêu cầu của chị H giao con chung Dương Hoàng Đ cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H xin tự giải quyết với anh L nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản: Chị Hoàng Thị H xin tự giải quyết với anh Dương Văn L nên Toà án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Dương Văn L.

2. Về con chung: Xử giao con chung Dương Hoàng Đ, sinh ngày 13-02-2004 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị H xin tự giải quyết với anh L nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Chị Hoàng Thị H xin tự giải quyết với anh Dương Văn L nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0015909 ngày 27-02-2018. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ