vanban.org

Bản án 41/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Tú T1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Tú T1 được ly hôn với anh Phạm Quang S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị Trinh và anh Sửu"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số:41/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 14-8-2018
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHẤN DÂN HUYỆN T, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Chung

Ông Phạm Công Gia

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.

Đại diện VKSND huyện T, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật – Kiển sát viên.

Ngày 14/8/2018, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2018/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2018 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/TB-HNGĐ ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện T, giữa các đương sự:

- N đơn: Chị Phạm Tú T1, sinh năm 1991.

Địa chỉ: 107B/409A, lầu 4, Đ, P6, Q5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: 6/4C, đường Ụ Ghe, khu phố 2, phường T2, quận T3, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Phạm Quang S, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp 2, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai

(Tại phiên tòa chị T1, anh S vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 07/3/2018 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/3/2018, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Phạm tú T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhận: Chị và anh S tự nguyện kết hôn vào năm 2009, và có đăng ký kết hôn tại UBND Phường 26, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Vợ chồng anh sinh sống hạnh phúc đến năm 2010 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh S sử dụng ma túy nên không lo cho cuộc sống gia đình mà mọi việc từ chăm sóc con đến ăn uống trong gia đình đều do chị lo liệu, bên cạnh đó những khi không có tiền sử dụng ma túy anh S còn đánh đập chị, xúc phạm danh dự nhân phẩm chị. Chị cũng đã cố gắng chịu đựng nhưng anh S vẫn không thay đổi bản thân cho nên cuộc sống không có hạnh phúc. Chị và anh S đã sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay, nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Quang S.

- Về con chung: Chị và anh S có 04 người con chung là Phạm Tú N – sinh ngày 23/8/2009, Phạm Quang M – sinh ngày 14/9/2012, Phạm Hoàng Yến T4– sinh ngày 27/5/2014 và Phạm Hoàng S1 – sinh ngày 03/7/2016, hiện nay các con chung đang ở chung với chị, do chị chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng 04 con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý số 91/2018/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2018 cho anh S. Anh S đã biết được việc chị T1 xin ly hôn với anh nhưng không có ý kiến trả lời theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh S nhưng anh S không đến Tòa án làm việc nên anh S không có ý kiến trình bày.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị T1 đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: CMND của chị T1 (Bản sao), chứng minh nhân dân của anh S (photo); 02 Sổ hộ khẩu (Bản sao); 04 Giấy khai sinh (Bản sao); 01 giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính). Bản sao các tài liệu, chứng cứ này bị đơn đã nhận được.

Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân. Tòa án đã ra thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự biết. Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, chị T1 không có ý kiến gì và không bổ sung gì thêm.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T1, cho chị T1 được ly hôn anh S.

+Về con chung: Giao cháu Phạm Tú N – sinh ngày 23/8/2009, Phạm Quang M – sinh ngày 14/9/2012, Phạm Hoàng Yến T4 – sinh ngày 27/5/2014 và Phạm Hoàng S1 – sinh ngày 03/7/2016 cho chị T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm thời anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T1 không có yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Anh S vắng mặt tại các buổi hòa giải và xét xử nên khi nào các đương sự yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

+ Về án phí: Chị T1 phải nộp 300.000đ án phí DSST về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Chị Phạm Tú T1 có đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấ p về viê ̣c nuôi con khi ly hôn vớ i anh S. Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác đi ̣nh chi ̣ T1 là nguyên đơn, anh S là bị đơn.

Anh Phạm Quang S là bị đơn có nơi cư trú tại ấp 2, xã Phú Điền, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân huyện T có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.

[1.3] Chị T1 khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh S, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung sau ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hô ̣i đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn".

Chị Phạm Tú T1 là N đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Quang S là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai , nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào khoản khoản 1 và 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt N đơn và bị đơn.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị T1 và anh S được xác lâ ̣p trên cở sở tự nguyện, được UBND Phường 26, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28/4/2009. Như vậy, hôn nhân giữa chị T1 và anh S được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay chị T1 yêu cầu ly hôn, thì Tòa án áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết.

Trên cơ sở lời khai của các đương sự, kết quả xác minh thực tế tại địa phương thể hiện: Chị T1 yêu cầu ly hôn với lý do anh S sử dụng ma túy nên không còn lo cho cuộc sống gia đình mà mọi việc từ chăm sóc con đến ăn uống trong gia đình đều do chị lo liệu, bên cạnh đó những khi không có tiền sử dụng ma túy anh S còn đánh đập chị, xúc phạm danh dự nhân phẩm chị. Chị và anh S đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, vợ chồng không còn sống chung vớ i nhau nữa. Nay chị T1 không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống và có nguyện vọng ly hôn.

Xét, chị T1 và anh S hiê ̣n nay đa không cõ

̀n sống chung vớ i nhau , bản thân anh S đa đượ̃

c Tòa án tống đa ̣t hợp lê ̣ các văn bản tố tụng nhưng anh S vẫn không đến tòa làm viê ̣c, thể hiê ̣n anh S không mong muốn hòa giải để vợ chồng cùng đoàn tụ sống chung.

Như vậy, có căn cứ xác định chị T1 và anh S đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để anh, chị có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của chị T1, cho chị được ly hôn với anh S.

Về con chung: Chị T1 và anh S có 04 con chung: Phạm Tú N – sinh ngày 23/8/2009, Phạm Quang M – sinh ngày 14/9/2012, Phạm Hoàng Yến T4 – sinh ngày 27/5/2014 và Phạm Hoàng S1 – sinh ngày 03/7/2016. Theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Từ khi chị T1 và anh S ly thân, các con chung được chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T1 yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Ý kiến của chị T1 cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N. Từ các căn cứ trên, để đảm bảo quyền lợi cho các con, tránh sự xáo trộn đời sống tâm lý của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Phạm Tú N, Phạm Quang M, Phạm Hoàng Yến T4 và Phạm Hoàng S1 cho chị T1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tạm thời anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T1 không có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh S không đến Tòa làm việc nên không có lời khai của anh S. Để đảm bảo quyền, lợi ích của chị T1, anh S, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung ra để giải quyết bằng vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ.

Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Tú T1.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Tú T1 được ly hôn với anh Phạm Quang S.

- Về con chung: Giao cháu Phạm Tú N – sinh ngày 23/8/2009, Phạm Quang M – sinh ngày 14/9/2012, Phạm Hoàng Yến T4– sinh ngày 27/5/2014 và Phạm Hoàng S1 – sinh ngày 03/7/2016 cho chị T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T1 không có yêu cầu. Anh S được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung chị T1, anh S có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

2/ Về án phí: Chị Phạm Tú T1 phải nộp 300.000 đồng tiền án phi dân sự

́ sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000 đồng chị T1 đã nộp theo biên lai thu số 009123 ngày 20/3/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T được chuyển thành án phí.

3/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4/ Chị T1 và anh S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mườ i lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ