- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị H xin ly hôn anh Hồ Tiến Hg"
- Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Hồ Tiến Hg.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2018/HNGĐ - ST Ngày: 10 - 4 - 2018. V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Đào Văn Rạng.
- Ông Đàm Văn Kiều.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 10/4/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2017/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2018/QĐXX - ST ngày 09/3/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 07/2018/QĐST – HNGĐ ngày 28/3/2018 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H – Sinh năm 1981. Địa chỉ: Phố Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định.
+ Bị đơn: Anh Hồ Tiến Hg – Sinh năm 1976. Địa chỉ: Phố Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định. Tại phiên tòa có mặt chị H vắng mặt anh Hg.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 13/11/2017 cũng như lời khai chị Phạm Thị H tại phiên tòa thể hiện: Chị kết hôn với anh Hồ Tiến Hg vào tháng 3/2004 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hanh phúc, đến năm 2011 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Hg ham chơi cờ bạc, say xỉn thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ con. Mặc dù chị và gia đình động viên khuyên bảo nhưng anh Hg vẫn không thay đồi. Do không chịu đựng được nên đến tháng 5/2011 thì chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở, vợ chồng chị ly thân từ đó cho đên nay. Nay chị H xác định tình cảm giữa chị và anh Hg không còn cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Tiến Hg.
Về con chung chị Phạm Thị Huệ trình bày: Giữa chị và anh Hg có hai con chung là cháu Hồ Xuân T, sinh ngày 26/10/2004 và cháu Hồ Quỳnh A, sinh ngày 11/3/2007. Từ khi vợ chồng ly thân cháu T đáng do anh Hg chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu Quỳnh A đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi cháu Hồ Quỳnh A còn để anh Hg nuôi cháu Hồ Xuân T; không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung của vợ chồng chị H khai vợ chồng chị không có tài sản chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí chị H đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay anh Hồ Tiến Hg không có mặt. Lời khai của bà Đinh Thị K (là mẹ đẻ của anh Hồ Tiến Hg) tại các buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Trong thời gian vừa qua gia đình có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho anh Hg đầy đủ. Do anh Hg phải đi làm không thể lên Tòa để làm việc được anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh và anh có nhờ gia đình ý kiến với Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H xin ly hôn anh thì anh nhất trí ly hôn.
Về con chung anh xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Hồ Xuân T, sinh ngày 26/10/2004 và cháu Hồ Quỳnh A, sinh ngày 11/3/2007. Từ khi vợ chồng ly thân cháu T đáng do anh Hg chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu Quỳnh A đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn anh Hg có nguyện vọng nuôi cháu Hồ Xuân T còn để chị H nuôi cháu Hồ Quỳnh A bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay cháu Hồ Xuân T đang ở với anh Hg nên tòa án không lấy được ý kiến của cháu. Lời trình bày của cháu Hồ Quỳnh A là nguyện vọng muốn ở với mẹ.
Về tài sản chung anh xác định vợ chồng không có tài sản chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung:
- Quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H xin ly hôn anh Hồ Tiến Hg. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Hồ Tiến Hg.
- Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Hồ Tiến Hg có hai con chung là cháu Hồ Xuân T, sinh ngày 26/10/2004 và cháu Hồ Quỳnh A, sinh ngày 11/3/2007. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hồ Quỳnh A cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Hồ Xuân T cho anh Hồ Tiến Hg trực tieps nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Hồ Tiến Hg đều thống nhất xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chị H phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Phạm Thị H và anh Hồ Tiến Hg đều cư trú tại huyện Nghĩa Hưng. Nay chị Phạm Thị H có đơn xin ly hôn anh Hồ Tiến Hg và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền phù hợp với Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay anh Hồ Tiến Hg đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hg là phù hợp với khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Hồ Tiến Hg vào tháng 3 năm 2004 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2011 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Hg ham chơi cờ bạc, say xỉn thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ con. Mặc dù chị và gia đình động viên khuyên bảo nhưng anh Hg vẫn không thay đồi. Do không chịu đựng được nên đến tháng 5/2011 thì chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng chị ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Hg đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị H có đơn xin ly hôn anh Hg nên chấp nhận là phù hợp.
Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Hồ Tiến Hg đều thống nhất xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Hồ Xuân T, sinh ngày 26/10/2004 và cháu Hồ Quỳnh A, sinh ngày 11/3/2007. Từ khi vợ chồng ly thân cháu T đang do anh Hg chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu Quỳnh A đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị H có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cháu Hồ Quỳnh A còn để anh Hg nuôi cháu Hồ Xuân T; không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung, anh Hg có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cháu Hồ Xuân T còn để chị H nuôi cháu Hồ Quỳnh A, không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của chị H và anh Hg thấy kể từ khi vợ chồng ly thân T đang do anh Hg chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu Quỳnh A đang do chị H chăm sóc nuôi dưỡng, vì vậy giao cháu Hồ Quỳnh A cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Hồ Xuân T cho anh Hồ Tiến Hg trực tiếp nuôi dưỡng và cũng là phù hợp với nguyện vọng của cháu Quỳnh A, không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị Phạm Thị H và anh Hồ Tiến Hg đều thống nhất xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải nộp theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1 - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Hồ Tiến Hg.
2 - Về con chung: Giao cháu Hồ Quỳnh A, sinh ngày 11/3/2007 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Hồ Xuân T, sinh ngày 26/10/2004 cho anh Hồ Tiến Hg trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
3 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Huệ đã nộp theo biên lai số BB/2012/06xxx ngày 13/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị Huệ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án Tỉnh. - VKS huyện. - THA huyện. - UBND xã T. - Các đương sự. - Lưu án văn. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Văn Chủng |