vanban.org

Bản án 41/2018/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà M1 ối với bà T2 và ông Q1 ối với số tiền 50.

[2]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Ngô Thị Thanh M1 ối với ông Lê Đình Q1 và bà Đỗ Thị Kim T2 về việc: “Tranh chấp h p ng vay tài sản”. Buộc Lê Đình Q1 và bà Đỗ Thị Kim T2 phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Ngô Thị Thanh M1 số số tiền 1.306.151.250 , trong ó số tiền 1.125.000.000 tiền gốc và 181.1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngô Thị Thanh M1 - Lê Đình Q1"
  • Tòa quyết gì? [1]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà M1 ối với bà T2 và ông Q1 ối với số tiền 50.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Luật hôn nhân gia ình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/DS-ST
Ngày 19/10/2018
V/v: “Tranh chấp h p ng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Ngọ Văn Tỉnh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trịnh Thị Mai Hương

2. Bà Đoàn Thị Mến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Trang – Thư ký Tòa án

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lệ Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2018/TLST- DS ngày 08 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp h p ng vay tài sản”, theo Quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐXXST-DS ngày 14/9/2018; Quyết ịnh hoãn phiên tòa số 52/2018/QĐST –DS ngày 02/10/2018 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Thanh M1, sinh năm: 1976 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 4, ấp Láng Găng, xã BC, huyện X1, tỉnh BR – VT.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Lê Đình Q1, sinh năm: 1960 (vắng mặt)

2.2. Bà Đỗ Thị Kim T2, sinh năm: 1964 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 15, ấp Thạnh Sơn 2B, xã V2, huyện X1, tỉnh BR – VT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/5/2018 và các biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn trình bày như sau:

Do là chỗ quen biết với v ch ng ông Lê Đình Q1 và bà Đỗ Thị Kim T2 và biết gia ình bà T2 và ông Q1 kinh doanh thức ăn gia súc nên bà M1 thường cho bà T2 và ông Q1 vay tiền ể làm ăn, sau nhiều lần vay có vay có trả, ến năm 2016 ông Q1 và bà T2 còn n bà M1 tổng số tiền 1.030.000.000 .

Ngày 23/6/2016 ông Q1 và bà T2 vay tiếp của bà M1 số tiền 800.000.000 , lần vay này có giấy viết tay có chữ ký và chữ viết của bà T2 sau khi nhận ủ tiền, khi vay không thế chấp tài sản gì, thời hạn vay là 06 tháng, mức lãi suất là 1,5%/tháng. Hết thời hạn thì bên vay mới trả ư c n gốc còn chưa trả lãi, sau này các bên xác ịnh lãi là 50.000.000 .

Sau này ông Q1 và bà T2 còn vay thêm của bà M1 nhiều lần với số tiền tổng cộng là 95.000.000 .

Ngày 23/5/2017 thì ông Q1, bà T2 mới viết giấy nhận n cho bà M1 và cam kết lộ trình và thời hạn trả n như sau:

Ngày 24/5/2017 trả số tiền lãi 50.000.000 ;

Ngày 30/5/2017 trả số tiền 95.000.000 ;

Ngày 30/6/2017 trả số tiền 1.030.000.000 ;

Giấy này do ông Lê Đình Q1 là ch ng bà Đỗ Thị Kim T2 viết ưa cho bà M1 ể làm tin.

Số tiền lãi 50.000.000 là tiền lãi phát sinh của món n 1.030.000.000 từ ngày 04/4/2016 ến ngày 23/6/2016 là 49 ngày, mỗi ngày bà T2, ông Q1 phải chịu lãi suất theo thỏa thuận là 1.030.000 /ngày. Đến ngày 23/6/2016 khi bà T2 ến mư n của tôi số tiền 800.000.000 lúc này có viết giấy tổng cộng hai món vay ngày 04/4/2016 và ngày 23/6/2016 là 1.830.000.000 tuy nhiên số tiền 800.000.000 thì bà T2 ã trả còn số tiền 1.030.000.000 thì bà T2 chưa trả. Theo ơn khởi kiện thì bà M1 yêu cầu bà T2, ông Q1 phải trả cho số tiền lãi 50.000.000 nhưng tại phiên tòa xét thấy bà T2 và ông Q1 khó khăn về kinh tế nên rút yêu cầu khởi kiện ối với số tiền 50.000.000 này.

Như vậy giai oạn từ 23/6/2016 ến 30/6/2017 trong giai oạn này bà M1 không yêu cầu lãi suất với số tiền 1.030.000.000 vì các bên ã thỏa thuận gia hạn cho bà T2 ến ngày 30/6/2017 tuy nhiên bà T2 không trả n như ã cam kết nên tôi yêu cầu tính lãi suất từ ngày 01/1/2017 cho ến nay, mức lãi suất ư c thực hiện theo quy ịnh của pháp luật.

Đối với số tiền 95.000.000 tôi không yêu cầu tính lãi.

Lý do bà M1 khởi kiện cả ông Q1 và bà T2 do khi cho vay ông Q1 và bà T2 ều là người trực tiếp vay, bản thân ông Q1 tuy không ký vào giấy nhận tiền nhưng ông Q1 có biết, khi giao tiền có lúc giao tiền ở nhà của ông Q1, bà T2 có sự chứng kiến của ông Q1, có lúc chỉ giao cho một mình bà T2, có lúc thì ông Q1 và bà T2 cùng ến nhà bà M1 lấy tiền, tuy nhiên khi viết giấy do không ể ý lại ể ông Q1 viết giấy ông chỉ là “người làm chứng” là không úng với sự thật. Khi vay tiền của bà M1 thì bà T2 và ông Q1 vay vào mục ích kinh doanh vì bà T2 ông Q1 kinh doanh thức ăn gia súc.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 05/7/2018 và các biên bản làm việc tiếp theo tại tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Đỗ Thị Kim T2 trình bày như sau:

Do quen biết và làm ăn với nhau nên bà T2 có vay tiền của bà M1 nhiều lần , số tiền 1.030.000.000 là bà T2 vay của bà M1 từ năm 2014 mực ích ể kinh doanh, khi vay có thỏa thuận lãi suất với mức là 1.5%/tháng, khi vay không thế chấp tài sản cũng như không thỏa thuận thời hạn trả n . Vì hoàn cảnh khó khăn nên chưa thanh toán ư c cho bà M1.

Vào ngày 23/6/2016 bà T2 còn vay thêm của bà M1 số tiền 800.000.000 nhưng số tiền này bà T2 ã trả cho bà M1.

Ngoài ra còn vay thêm nhiều lần khác với tổng số tiền 95.000.000 .

Cùng với số tiền lãi cộng d n của các lần vay là 50.000.000 .

Đến ngày 23/5/2017 các bên tính toán lại n thì v ch ng bà T2 mới viết giấy nhận n cho bà M1 và cam kết lộ trình và thời hạn trả n như sau:

Ngày 24/5/2017 trả số tiền lãi 50.000.000 ;

Ngày 30/5/2017 trả số tiền 95.000.000 ;

Ngày 30/6/2017 trả số tiền 1.030.000.000 ;

Tuy nhiên do iều kiện khó khăn nên bà chưa trả n ư c cho bà M1 ư c. Tại phiên tòa bà M1 rút bớt yêu cầu ối với số tiền 50.000.000 thì bà T2 ng ý, số tiền vay của bà M1 thì ông Q1 có biết.

Đối với ông Lê Đình Q1, Tòa án ã triệu tập h p lệ nhưng ông vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay của Thẩm phán, Hội ng xét xử, Thư ký Tòa án là úng theo quy ịnh của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên ơn chấp hành pháp luật và thực hiện úng quyền và nghĩa vụ của mình; bị ơn là ông Q1 vắng mặt trong các phiên hòa giải và tại phiên tòa là chưa thực hiện úng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung, ề nghị Tòa án ình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn và chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên ơn về việc: “Tranh chấp h p ng vay tài sản” ối với Q1 và bà T2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong h sơ vụ án ư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội ng xét xử nhận ịnh:

. Về tố tụng, thẩm quyền:

Tại phiên tòa, bị ơn là ông Lê Đình Q1 dù ã ư c Tòa án triệu tập h p lệ hai lần ể tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do ó xét xử vắng mặt ông Q1 là phù h p với Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp h p ng vay tài sản” giữa Bà Ngô Thị Thanh M1 với ông Lê Đình Q1 và bà Đỗ Thị Kim T2 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc quy ịnh tại Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu tranh chấp của đương sự:

Về yêu cầu tiền gốc: Qua lời khai thừa nhận của nguyên ơn và bị ơn là bà T2 cùng các chứng cứ do nguyên ơn cung cấp khi khởi kiện ã ủ cơ sở xác ịnh: Giữa các ương sự có vay mư n tiền của nhau là úng, bà M1 cho bà T2 vay tiền nhiều lần, có vay có trả, tính ến ngày 23/5/2017 thì bà T2 còn n bà M1 số tiền 1.125.000.000 tiền gốc và 50.000.000 tiền lãi, theo giấy vay n viết vào ngày 23/5/2017 do chính ông Q1 viết với tư cách là người làm chứng, ng thời giấy vay n này có nội dung: Bà T2 cam kết sẽ trả n cho bà M1 với số tiền và thời hạn như sau:

Ngày 24/5/2017 trả số tiền lãi 50.000.000 ;

Ngày 30/5/2017 trả số tiền 95.000.000 ;

Ngày 30/6/2017 trả số tiền 1.030.000.000 ;

Toàn bộ các món n của h p ng vay cũng như chứng cứ mà nguyên ơn giao nộp và bị ơn thừa nhận thì ây là những sự thật không cần chứng minh theo quy ịnh tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình thực hiện cam kết nêu trên, ến hạn bà T2 không thanh toán ư c n như cam kết nên bà M1 khởi kiện yêu cầu bà T2 thanh toán n gốc là có căn cứ vì vậy buộc bà T2 phải trả cho bà M1 số tiền gốc 1.125.000.000 là phù h p với Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005.

Đối với số tiền lãi 50.000.000 ư c ghi trong giấy vay n , tại phiên tòa nguyên ơn trình bày ý kiến: Xin rút yêu cầu khởi kiện ối với số tiền lãi này, xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn là tự nguyện, phù h p với pháp luật nên ghi nhận.

Về lãi suất phát sinh: Xét thấy các khoản vay của bị ơn ối với nguyên ơn là vay có thời hạn và có lãi, tại phiên tòa nguyên ơn không yêu cầu tính lãi suất ối với số tiền 95.000.000 , chỉ yêu cầu tính lãi suất ối với số tiền 1.030.000.000 từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả n theo cam kết ến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy ịnh, cụ thể từ ngày 01/7/2017 ến ngày xét xử sơ thẩm (19/10/2018), tổng cộng là 15 tháng 19 ngày (tổng là 469 ngày), do ó lãi suất ư c tính như sau: (1.030.000.000 x 0.0375% ) x 469 ngày = 181.151.250 .

Đối với yêu cầu ông Q1 có nghĩa vụ trả n cho thấy, việc vay n của bà T2 ể hoạt ộng kinh doanh phát triển kinh tế gia ình việc vay n ư c thực hiện trong một thời gian dài, có vay có trả, ông Q1 và bà T2 sống cùng nhà và nhiều lần cùng bà T2 nhận tiền vay từ bà M1 và ông Q1 cũng chính là người viết giấy vay n cho bà M1 chứng tỏ ông Q1 biết việc vay n này, từ khi khởi kiện ến nay ông Q1 không ến Tòa án ể trình bày ý kiến của mình ể xác ịnh ây là n chung của v ch ng hay n riêng, vì vậy căn cứ vào quy ịnh tại Điều 27, 30 và 37 Luật Hôn nhân và Gia ình, hội ng xét xử xác ịnh ây là n chung của v ch ng buộc ông Q1 cùng bà T2 có nghĩa vụ trả n cho bà M1 là phù h p.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn là có căn cứ nên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên ơn theo quy ịnh tại các Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005.

Về án phí: Buộc bị ơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy ịnh tại Điều 24, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 trên số tiền nguyên ơn khởi kiện ư c chấp nhận, cụ thể như sau:

Ông Lê Đình Q1 và bà Đỗ Thị Kim T2 phải nộp án phí trên số tiền (1.306.151.250 ) = 51.184.538 án phí dân sự sơ thẩm;

Nguyên ơn ư c trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26, 35, 227, 228 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 471, 474, 476, 477, 305 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 27, 30, 37 Luật hôn nhân gia ình; Điều 24, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Tuyên xử:

[1]. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà M1 ối với bà T2 và ông Q1 ối với số tiền 50.000.000

[2]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Ngô Thị Thanh M1 ối với ông Lê Đình Q1 và bà Đỗ Thị Kim T2 về việc: “Tranh chấp h p ng vay tài sản”.

Buộc Lê Đình Q1 và bà Đỗ Thị Kim T2 phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Ngô Thị Thanh M1 số số tiền 1.306.151.250 , trong ó số tiền 1.125.000.000 tiền gốc và 181.151.250 tiền lãi.

Kể từ ngày người ư c thi hành án có ơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải chịu thêm khoản tiền lãi tính theo mức lãi suất theo quy ịnh tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án và số tiền chậm thi hành án tại thời iểm thanh toán.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Lê Đình Q1 và bà Đỗ Thị Kim T2 phải nộp số tiền 51.184.538 án phí dân sự sơ thẩm;

Bà Ngô Thị Thanh M1 ư c hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 23.625.000 (Hai mươi ba triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn ng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001693 ngày 08/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các ương sự ư c quyền kháng cáo bản án ể yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên toà ư c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ư c niêm yết bản án.

Trường h p bản án, quyết ịnh ư c thi hành theo quy ịnh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người ư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy ịnh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự ư c thực hiện theo quy ịnh tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ