- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Đỗ Thị H - Võ Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị H về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” đối với bị đơn ông Võ Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 41/2018/DS-ST Ngày: 15-5-2018 V/v: “Tranh chấp thừa kế tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hiệp
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Ngô Hoài Phong - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 15 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2017/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2017 về việc: “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST – DS ngày 22 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2018/QĐST – DS ngày 17/4/2018 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1934; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1972; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ liên lạc: đƣờng T, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Võ Văn T, sinh năm 1953; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3.2. Bà Võ Thị B, sinh năm 1956; địa chỉ: phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3.3. Bà Võ Thị T, sinh năm 1958; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3.4. Ông Võ Văn H, sinh năm 1961; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3.5. Bà Võ Thị Kim T, sinh năm 1964; địa chỉ: phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3.6. Bà Võ Thị Ngọc S, sinh năm 1968; địa chỉ: xã B, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3.7. Bà Võ Thị Ngọc Y, sinh năm 1970; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3.8. Bà Võ Thị Ngọc B, sinh năm 1975; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3.9. Bà Võ Thị Kim B, sinh năm 1979; địa chỉ: xã B, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
3.10. Ông Lê Văn B, sinh năm 1962; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn xin vắng mặt.
3.11. Chị Võ Ngọc N, sinh năm 1981; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn xin vắng mặt.
3.12. Anh Lê Thành T, sinh năm 1993; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn xin vắng mặt.
3.13. Chị Trần Thị Yến A, sinh năm 2001; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Ngƣời đại diện hợp pháp của chị Trần Thị Yến A là bà Võ Thị Ngọc Y, sinh năm 1970; địa chỉ: phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, là ngƣời đại diện theo pháp luật (mẹ ruột), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/4/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đỗ Thị H trình bày: Bà Đỗ Thị H và ông Võ Văn H là vợ chồng sống chung từ trƣớc năm 1953, ông H và bà H có 10 ngƣời con gồm: Ông Võ Văn T, bà Võ Thị B, bà Võ Thị T, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Ngọc Y, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc B và bà Võ Thị Kim B. Sinh thời ông H, bà H tạo lập đƣợc khối tài sản chung gồm phần đất có diện tích 5.974,5m2 đƣợc UBND thị xã Thủ Dầu Một cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M718132, vào sổ cấp giấy chứng nhận 00918QSDĐ/TA ngày 14/7/1998 cho ông Võ Văn H , đất tọa lạc tại xã T (nay là phƣờng T), thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng thuộc các thửa 146,147,177 và 207 tờ bản đồ số 11 và thửa số 234 tờ bản đồ số 12, trên đất Thuộc thửa 234 có ngôi nhà cấp 4 diện tích khoảng 100m2 hiện bà H đang quản lý sử dụng và 02 ngôi nhà cấp 4 khác diện tích khoảng 60m2 hiện do bà Võ Thị Ngọc Y và bà Võ Thị T đang quản lý sử dụng.
Ngày 27/3/2012, ông H chết không để lại di chúc, phần đất nói trên do bà Đỗ Thị H trực tiếp quản lý sử dụng. Do không thỏa thuận đƣợc việc phân chia tài sản thừa kế của ông H nên bà Đỗ Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế tài sản của ông H theo pháp luật cụ thể: ½ giá trị tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng bà H, ông H là 2.987,25m2 sẽ T phần bà H. Đối với ½ giá trị còn lại của điện tích đất 5.974,5m2:2 = 2.987,25m2 sẽ chia thành 11 phần trong đó các con mỗi ngƣời một phần, bà H một phần. Bà Đỗ Thị H yêu cầu đƣợc nhận bằng hiện vật.
Chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện bao gồm: Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khai sinh các con, chứng minh nhân dân, hộ khẩu các con, giấy chứng tử ông Võ Văn H , tờ tường trình quan hệ nhân thân.
Qua hòa giải vào ngày 16/6/2017 và ngày 12/3/2018 bị đơn ông Võ Văn H trình bày: Thống nhất về quan hệ huyết thống, về tài sản do ông H chết để lại. Tuy nhiên ông không đồng ý chia theo yêu cầu của bà H, ông yêu cầu đƣợc nhận nhà cấp 4 hiện bà H đang quản lý sử dụng. Đối với phần đất lúa, ông yêu cầu đƣợc chia theo quy định pháp luật.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị B, bà Võ Thị T, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Ngọc Y, bà Võ Thị Ngọc B, bà Võ Thị Kim B thống nhất về quan hệ huyết thống nhƣ bà H trình bày, đồng thời thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đồng ý việc chia tài sản thừa kế theo quy định pháp luật. Bà B, bà T, ông H, bà T, bà S, bà Y, bà B, bà B yêu cầu đƣợc nhận bằng hiện vật.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn T thống nhất quan hệ huyết thống cũng nhƣ yêu cầu khởi kiện của bà H. Tuy nhiên, ông T từ chối nhận di sản và đồng ý để toàn bộ phần thừa kế của ông cho những ngƣời thừa kế của ông H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ phần đất thể hiện: Phần đất thứ nhất T các thửa số 146,147,177 và 207 tờ bản đồ số 11 có diện tích đo đạc thực tế 11.268,6m2 (trong đó 3.774,2m2 HLBV rạch) hiện trạng là đất trống. Phần đất thứ 2 thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12 có diện tích đo đạc thực tế 1.398,3m2. Trên phần đất thứ 2 có 03 căn nhà cấp 4, cụ thể: Căn nhà thứ nhất có diện tích 62,6m2 hiện do bà Võ Thị T cùng chồng là ông (Lê Văn B, con là Võ Ngọc N, Lê Thành T) đang cùng quản lý sử dụng. Căn nhà thứ hai có diện tích 100,4m2 hiện do bà Đỗ Thị H đang quản lý sử dụng. Căn nhà thứ 3 có diện tích 53,1m2 hiện do bà Võ Thị Ngọc Y cùng con là Trần Thị Yến A đang quản lý sử dụng. Ngoài ra, trên phần đất tranh chấp còn có các tài sản khác nhƣ: 07 (bảy) cây Xoài, 03 (ba) cây Mít, 01 (môt) cây Tràm, 01 (một) cây Mận, 02 (hai) cây Cau kiểng, 03 (ba) cây Cau ăn trái, 01 (một) bụi Tre khoảng 10 cây.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn B, Võ Ngọc N, Lê Thành T không có văn bản trình bày ý kiến về tranh chấp giữa bà H và ông H. ông B, bà N, ông T có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Bà H yêu cầu chia ½ quyền sử dụng đất (tính theo đo đạc thực tế) và phần di sản bà H đƣợc chia của ông H trong số ½ diện tích đất còn lại.
Bị đơn ông Võ Văn H đã đƣợc Tòa án triệu tập đến lần thứ 2 nhƣng vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị B, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc B yêu cầu chia thừa kế và đề nghị đƣợc nhận bằng tiền.
Đối với ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H yêu cầu đƣợc nhận bằng hiện vật. Riêng bà Võ Thị T, bà Võ Thị Ngọc Y và bà Võ Thị Kim B yêu cầu chia thừa kế và đề nghị đƣợc nhận phần đất thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trƣớc khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng và đầy đủ các quy định về thủ tục tố tụng đƣợc quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án đƣợc đƣa ra xét xử đúng thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chƣơng XIV của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những ngƣời tham gia tố tụng: Các đƣơng sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn ông Võ Văn H chƣa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngoài ra, Kiểm sát viên không kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ngày 25/4/2017, bà Đỗ Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế tài sản là: Căn nhà và quyền sử dụng diện tích đất 5.974,5m2 (đo đạc thực tế 12.666,9m2 (trong đó có 300m2 đất thổ cƣ và 3.774,2m2 HLBV rạch, còn lại 8.592,7m2 là đất trồng lúa)) tọa lạc tại phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Do đó xác định đây là vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo quy định tại Điều 634 của Bộ luật dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Do đối tƣợng tranh chấp là quyền sử dụng đất tại phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng nên căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án T thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.
[3] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Văn H đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn B, chị Võ Ngọc N anh Lê Thành T có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H, ông B, bà N và ông T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Các vấn đề có tranh chấp: Ông Võ Văn H, sinh năm 1927, chết ngày 27/3/2012 và bà Đỗ Thị H là vợ chồng chung sống từ năm 1953. Ông H bà H có 10 ngƣời con chung gồm: Ông Võ Văn T, bà Võ Thị B, bà Võ Thị T, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Ngọc Y, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc B và bà Võ Thị Kim B. Cha mẹ của ông Võ Văn H là ông Võ Văn C và Phạm Thị P cũng đã chết từ lâu (không có giấy chứng tử). Ngoài ra, ông H không có con riêng, không có con nuôi. Nhƣ vậy, tại thời điểm mở thừa kế thì hàng thừa kế thứ nhất của ông H gồm có 11 ngƣời bao gồm bà H và những ngƣời con chung nhƣ trên.
[4.1] Về tài sản thừa kế: Quá trình chung sống ông H , bà H có tạo lập đƣợc khối tài sản chung gồm: Quyền sử dụng diện tích đất 5.974,5m2 (đo đạc thực tế 12.666,9m2 (trong đó có 300m2 đất thổ cƣ và 3.774,2m2 HLBV rạch, còn lại 8.592,7m2 là đất trồng lúa)) tọa lạc tại phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, đất thuộc các thửa đất số 146,147,177, 207 tờ bản đồ số 11 và thửa số 234, tờ bản đồ số 12, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 718132 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00918/QSDĐ/TA) do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 14/7/1998 mang tên ông Võ Văn H . Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông H và lời trình bày của đƣơng sự tại phiên tòa, đủ cơ sở khẳng định quyền sử dụng đất trên là tài sản chung của ông Võ Văn H và bà Đỗ Thị H tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và đây là khối tài sản chung T sở hữu chung hợp nhất. Năm 2012 ông H chết không để lại di chúc, ông H chƣa định đoạt khối tài sản này. Do đó quyền sử dụng đất này sẽ đƣợc chia nhƣ sau: Diện tích đất 12.666,9m2 (bao gồm 300m2 đất thổ cƣ + 12.366,9m2 đất trồng lúa (trong đó có 3.774,2m2 HLBV rạch) và 01 căn nhà cấp 4 diện tích 100,4m2) : 2 = 6.333,45m2 (bao gồm 150m2 đất thổ cƣ + 6.183,4m2 đất trồng lúa (trong đó có 1.887,1m2 HLBV rạch) và 50,2m2 nhà) thuộc quyền sử dụng của bà Đỗ Thị H.
Phần di sản thừa kế của ông H là 6.333,45m2 (bao gồm 150m2 đất thổ cƣ + 6.183,4m2 đất trồng lúa (trong đó có 1.887,1m2 HLBV rạch) và 50,2m2 nhà). Ngày 25/4/2017 bà Đỗ Thị H khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông H cho những ngƣời thừa kế theo pháp luật là phù hợp quy định tại các Điều 609, 612, 649, 651 của Bộ luật dân sự. Phần di sản của ông H sẽ đƣợc chia đều cho hàng thừa kế gồm: bà H, ông Võ Văn T, bà Võ Thị B, bà Võ Thị T, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Ngọc Y, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc B, bà Võ Thị Kim B, mỗi ngƣời đƣợc hƣởng kỷ phần bằng nhau. Tại phiên tòa ông T từ chối nhận kỷ phần thừa kế đƣợc chia và tự nguyện tặng cho lại cho các đồng thừa kế khác. Do đó phần của ông T sẽ đƣợc chia cho 10 ngƣời còn lại gồm: bà H, bà Võ Thị B, bà Võ Thị T, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Ngọc Y, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc B, bà Võ Thị Kim B.
[4.2] Căn cứ biên bản định giá xác định toàn bộ phần tài sản của ông H và bà H nhƣ sau:
Thửa đất số 234, tờ bản đồ số 12 có diện tích 1.398m2 gồm: 300m2 thổ cƣ x 3.000.000đồng/m2 = 900.000.000đồng; 1.098m2 x 1.500.000đồng/m2 = 1.647.000.000đồng;
Thửa đất số 146,147,177 và 207 tờ bản đồ số 11 có diện tích 11.269m2 x 300.000đồng/m2 = 3.380.700.000đồng;
Nhà cấp 4 có giá 2.350.000đồng/m2 x 100,4m2 x 70% = 165.158.000đồng;
Xoài giá 330.000đồng/ cây x 01 cây = 330.000đồng;
Mít giá 170.000đồng/ cây x 01 cây = 170.000đồng;
Mận giá 160.000đồng/ cây x 01 cây = 160.000đồng;
Tràm giá 70.000đồng/ cây x 01 cây = 70.000đồng;
Cau (kiểng + ăn trái) giá 120.000đồng/ cây x 05 cây = 600.000đồng;
Tre giá 20.000đồng/ cây x 10 cây = 200.000đồng;
Tổng cộng giá trị tài sản của ông H bà H là 6.094.388.000 đồng. Do ½ giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của bà H nên ½ giá trị tài sản còn lại sẽ T về di sản của ông H , cụ thể: 6.094.388.000 đồng : 2 = 3.047.194.000 đồng.
Do ông T từ chối nhận di sản thừa kế nên phần di sản của ông H sẽ đƣợc chia cho những ngƣời sau: Bà Đỗ Thị H, bà Võ Thị B, bà Võ Thị T, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Ngọc Y, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc B, bà Võ Thị Kim B, cụ thể kỷ phần mỗi ngƣời đƣợc hƣởng là: 3.047.194.000 đồng :10 = 304.718.400 đồng. Bà H đƣợc nhận tổng cộng là 3.047.194.000 đồng + 304.718.400 đồng = 3.351.913.400 đồng.
[4.3] Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ xác định: Ngoài căn nhà của bà H ông H, trên thửa đất số 234 còn có căn nhà của bà Võ Thị T và bà Võ Thị Ngọc Y, bà T và bà Y yêu cầu đƣợc chia phần đất gắn liền nhà để tiếp tục quản lý sử dụng. Xét bà T, bà Y đã có nhà và sinh sống ổn định từ năm 2000, khi ông H còn sống cũng không phản đối. Do đó yêu cầu của bà Y và bà T về việc đƣợc phân chia phần đất gắn liền với nhà đang sinh sống là có cơ sở. Ngoài ra, bà B có nguyện vọng đƣợc chia phần đất thuộc thửa 234 để xây dựng nhà ở. Xét, bà B hiện chƣa có nhà ở ổn định, cần xem xét chia cho bà B phần đất thuộc thửa số 234 để quản lý sử dụng. Đối với bị đơn ông Võ Văn H yêu cầu đƣợc nhận nhà để sinh sống. Tuy nhiên, căn nhà hiện do bà H đang trực tiếp quản lý sử dụng và bà H là ngƣời đƣợc hƣởng ½ khối tài sản chung vợ chồng. Vì vậy yêu cầu của ông H về việc nhận nhà để sinh sống là không có cơ sở chấp nhận. Nhƣ vậy kỷ phần thừa kế của ông H sẽ đƣợc xem xét chia giá trị nhƣ những kỷ phần thừa kế còn lại. Về kỷ phần thừa kế của mỗi ngƣời đƣợc hƣởng của ông H sẽ là 304.718.400 đồng. Do bà B, bà Y, bà T đƣợc chia phần đất tại thửa 234 tờ bản đồ số 12. Do đó diện tích mỗi ngƣời đƣợc chia tƣơng đƣơng giá trị tiền là 304.718.400 đồng, cụ thể:
Bà Võ Thị T đƣợc chia phần đất diện tích 205,2m2 (trong đó có 62,6m2 đất thổ cƣ và 132,6m2 đất lúa), gắn liền căn nhà cấp 4 diện tích 62,6m2 thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12, có giá trị tƣơng đƣơng 386.700.000 đồng. Tuy nhiên, kỷ phần bà T đƣợc hƣởng là 304.718.400 đồng. Do đó bà T phải có trách nhiệm thanh toán phần giá trị chệnh lệch đƣợc hƣởng cho bà H là 386.700.000 đồng - 304.718.400 đồng = 81.981.600 đồng.
Bà Võ Thị Ngọc Y đƣợc chia phần đất diện tích 156,7m2 (trong đó có 60m2 đất thổ cƣ và 96,7m2 đất lúa), gắn liền căn nhà cấp 4 diện tích 53,1m2 Thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12, có giá trị tƣơng đƣơng 323.050.000 đồng. Tuy nhiên, kỷ phần bà Y đƣợc hƣởng là 304.718.400 đồng. Do đó bà Y phải có trách nhiệm thanh toán phần giá trị chệnh lệch đƣợc hƣởng cho bà H là 323.050.000 đồng - 304.718.400 đồng = 20.321.600 đồng.
Bà Võ Thị Kim B đƣợc chia phần đất diện tích 407,7m2 (trong đó có 27,4m2 đất thổ cƣ và 380,3m2 đất lúa) thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12, có giá trị tƣơng đƣơng 652.650.000 đồng. Tuy nhiên, kỷ phần bà B đƣợc hƣởng là 304.718.400 đồng. Do đó bà B phải có trách nhiệm thanh toán phần giá trị chệnh lệch đƣợc hƣởng cho bà H là 652.650.000 đồng - 304.718.400 đồng = 345.450.000 đồng.
Ngoài ra bà T, bà H, bà Y, bà B còn đƣợc sử dụng chung phần đất có diện tích 167m2 thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12 để làm lối đi.
Đối với ngƣời thừa kế là ông H có nguyện vọng nhận bằng hiện vật. Tuy nhiên, phần đất lúa thuộc các thửa 146,147,177 và 207 tờ bản đồ số 11 hiện do bà H đang trực tiếp quản lý sử dụng và bà H cũng là ngƣời trực tiếp quản lý sử dụng căn nhà. Vì vậy, cần giao cho bà H tiếp tục quản lý sử dụng phần đất lúa cũng nhƣ căn nhà cấp 4 gắn liền một phần quyền sử dụng đất thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12 tại phƣờng T và bà H có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho ông H, bà B, bà S, bà T, bà B, ông H mỗi ngƣời là 304.718.400 đồng.
Đối với ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Ông T, N, B, Yến A là ngƣời chung sống cùng bà T, bà Y. Do không có yêu cầu gì nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đƣơng sự phải nộp án phí trên cơ sở tài sản thừa kế đƣợc chia theo quy định tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bà Đỗ Thị H và bà Võ Thị B, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì bà Đỗ Thị H và bà Võ Thị B thuộc trƣờng hợp đƣợc miễn nộp án phí.
Về chi phí đo đạc – định giá: Tổng cộng 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) do bà H đã nộp tạm ứng trƣớc đây sẽ đƣợc chia đều cho những ngƣời thừa kế. Các ông (bà) Võ Thị B, bà Võ Thị T, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S bà Võ Thị Ngọc Y, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc B, bà Võ Thị Kim B có trách nhiệm trả lại cho bà H theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 631, 633, 634, 635, 645 và 685 của Bộ luật dân sự; Điều 166 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị H về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” đối với bị đơn ông Võ Văn H.
1.1. Bà Đỗ Thị H đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 11.730,1m2 (trong đó gồm: 150m2 thổ cƣ và 11.580,1m2 đất lúa (có 3.774,2m HLBV rạch)) Thuộc thửa 146,147,177,207 tờ bản đồ số 11 và một phần thửa 234 tờ bản đồ số 12 trên đất có căn nhà cấp 4 cùng toàn bộ cây trồng trên đất, phần đất tọa lạc tại phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng cùng toàn bộ tài sản có trên đất (ký hiệu A).
1.2. Bà Võ Thị T đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 205,2m2 (trong đó có 62,6m2 đất thổ cƣ và 132,6m2 đất lúa), gắn liền căn nhà cấp 4 diện tích 62,6m2 Thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng (ký hiệu B).
1.3. Bà Võ Thị Ngọc Y đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 156,7m2 (trong đó có 60m2 đất thổ cƣ và 96,7m2 đất lúa), gắn liền căn nhà cấp 4 diện tích 53,1m2 Thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng (ký hiệu C).
1.4. Bà Võ Thị Kim B đƣợc quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 407,7m2 (trong đó có 27,4m2 đất thổ cƣ và 380,3m2 đất lúa) Thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng (ký hiệu D).
1.5. Bà Võ Thị T, bà Đỗ Thị H, bà Võ Thị Ngọc Y, bà Võ Thị Kim B còn đƣợc sử dụng chung phần đất có diện tích 167m2 Thuộc thửa 234 tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng để làm lối đi (ký hiệu E).
Bà Đỗ Thị H, bà Võ Thị T, bà Võ Thị Ngọc Y, bà Võ Thị Kim B có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đất trên theo quy định.
2. Về trách nhiệm thanh toán:
2.1. Bà Võ Thị T có trách nhiệm thanh toán phần giá trị chệnh lệch đƣợc hƣởng cho bà Đỗ Thị H là 81.981.600 đồng.
2.2. Bà Võ Thị Ngọc Y có trách nhiệm thanh toán phần giá trị chệnh lệch đƣợc hƣởng cho bà Đỗ Thị H là 20.321.600 đồng.
2.3. Bà Võ Thị Kim B trách nhiệm thanh toán phần giá trị chệnh lệch đƣợc hƣởng cho bà Đỗ Thị H là 345.450.000 đồng.
2.4. Bà Đỗ Thị H có trách nhiệm thanh toán cho các đồng thừa kế còn lại gồm: Bà Võ Thị B, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Ngọc B, ông Võ Văn H giá trị kỷ phần mỗi ngƣời đƣợc hƣởng là 304.718.400 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì ngƣời phải thi hành án còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Ông Võ Văn H, bà Võ Thị T, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Ngọc Y, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc B, bà Võ Thị Kim B mỗi ngƣời phải nộp 15.235.900 đồng.
3.2. Bà Đỗ Thị H, bà Võ Thị B đƣợc miễn nộp tiền án phí.
4. Về chi phí tố tụng: Bà Võ Thị B, ông Võ Văn H, bà Võ Thị T, bà Võ Thị Kim T, bà Võ Thị Ngọc S, bà Võ Thị Ngọc Y, ông Võ Văn H, bà Võ Thị Ngọc B, bà Võ Thị Kim B mỗi ngƣời phải nộp 800.000 đồng để trả lại cho bà Đỗ Thị H do bà H đã tạm ứng trƣớc đây.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đƣơng sự đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND TP. Thủ Dầu Một; - CC THADS TP. Thủ Dầu Một; - Các đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Thảo |