vanban.org

Bản án 41/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ăn c vào Khoản 3 Điều 26, đi m a Khoản 1 Điều 35, đi m a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, đi m b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

ăn c vào các Điều 357, Điều 463, Khoản 1 và Khoản 4 Điều 466, Khoản 2 Điều 468, Khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự; ăn c vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "dân sự"
  • Tòa quyết gì? ăn c vào Khoản 3 Điều 26, đi m a Khoản 1 Điều 35, đi m a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, đi m b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA KAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/DS-ST.
Ngày: 30/11/2018.
V/v:“Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Ngọc.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Vụ.

2. .Bà Nguyễn Thị Mai.

- Th

hi n t a: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

- i di n i n i m sát nh n d n huy n a ar, tỉnh ắk Lắ tham gia hi n t a: Ông Hồ Xuân Thắng – h c vụ : i m sát vi n

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2018/TLST-DS, ngày 08 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33a/2018/QĐXX-ST, ngày 26 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2018/QĐST – DS, ngày 14/11/2018, Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1963 Địa chỉ: Thôn 8, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

Bị đơn: Bà Trần Thị Mỹ D. Địa chỉ: Thôn A, thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn H. Địa chỉ: Thôn A, thôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

+ Ông Võ Tá T. Địa chỉ: Thôn 8, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đại diện theo ủy quyền của ông T là bà Trần Thị L. (Có mặt) Địa chỉ: Thôn 8, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguy n đơn và là người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Tá T, bà Trần Thị L trình bày:

Vào ngày 29/8/2017 tôi có cho bà Trần Thị Mỹ D vay với số tiền 61.900.000 đồng khi vay hai bên có làm giấy tờ viết tay với nhau, bà D vay với mục đích làm bìa đỏ đất ở chợ, khi vay chỉ có một mình bà D vay, ông H là chồng của bà D không biết việc này và cũng không ký t n vào dưới mục người vay tiền, thời hạn trả nợ các bên thỏa thuận là cuối mùa cà ph năm 2017 t c là vào khoảng tháng 12/2017 sẽ trả. Lãi suất các bên thỏa thuận miệng với nhau không ghi vào trong giấy vay tiền. Tuy nhiên, đến hẹn mùa cà phê thu hoạch xong bà D không trả tiền cho tôi như đã cam kết, mặc dù tôi đã đòi nhiều lần nhưng bà D không trả. Vì vậy, tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ea Kar giải quyết buộc bà D phải có trách nhiệm trả cho tôi số tiền đã vay là 61 900 000 đồng và tiền lãi phát sinh là 0 8%/tháng được tính từ ngày 01/1/2018 cho đến ngày 30/11/2018 òn đối với ông H là chồng của bà D khi các bên vay mượn thì chỉ có bà D vay tiền và nhận tiền, ch ông H hoàn toàn không biết việc này, nên tôi chỉ yêu cầu bà D phải có trách nhiệm trả cho tôi và không yêu cầu ông H trả nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án tôi có nộp 4 320 000 đồng tiền tạm ng chi phí giám định chữ ký, làm cơ sở cho Tòa án nhân dân huyện Ea Kar giải quyết vụ án. Do vậy, tôi yêu cầu bà D trả lại cho tôi số tiền trên.

Sau khi thụ lý Tòa án nhân dân huyện Ea ar đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về việc thu thập tài liệu ch ng c , kết luận giám định chữ ký chữ viết, thông báo về phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và hòa giải đ bị đơn bà Trần Thị Mỹ D, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H đến Tòa án làm việc, nhưng bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mặc dù đã nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt nhưng vắng mặt tại các buổi làm việc do Tòa án tổ ch c mà không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được, căn c vào Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ea ar đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar mở phiên Tòa xét xử vụ án nhưng nguy n đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ li n quan đều vắng mặt không lý do Do đó, Hội đồng xét xử căn c vào Khoản 1 Điều 227 và Điều 233 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa, Qua phần tranh luận, nguy n đơn và đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn Trần Thị Mỹ D và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do Do đó, căn c đi m b, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà D, ông H.

Quan đi m của đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Ea Kar:

Ki m sát viên phát bi u ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; việc thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm; việc chấp hành pháp luật của nguy n đơn tham gia tố tụng k từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời đi m Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71,72 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Trần Thị Mỹ D, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H không hợp tác, không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

- Về nội dung vụ án: ăn c vào lời khai của nguy n đơn, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Kết luận giám định chữ viết của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk đã xác định được bị đơn bà Trần Thị Mỹ D có vay của gia đình bà L số tiền 61.900 000 đồng Do đó, y u cầu khởi kiện của nguy n đơn là có cơ sở nên cần chấp nhận buộc bà D phải trả cho bà L và ông T số tiền 61 900 000 đồng là có căn c .

Về lãi suất: Trong giấy vay tiền các bên không ghi lãi suất, lãi suất chỉ thỏa thuận miệng với nhau, nguy n đơn y u cầu tính lãi suất của khoản tiền vay tr n được tính từ thời đi m bà D không trả được nợ là ngày 01/1/2018 lãi suất yêu cầu 0,8%/Tháng kề từ ngày 01/1/2018 cho đến ngày 30/11/2018, xét yêu cầu trên của nguy n đơn là phù hợp với Khoản 4 Đi u 466, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 n n đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận đối với yêu cầu này.

Đối với chi phí giám định, cần buộc bị đơn phải trả cho nguy n đơn là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn c vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

ăn c vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phần trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phi n tòa, quan đi m của Ki m sát viên, hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Trần Thị L, Tòa án nhân dân huyện Ea ar xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ea Kar thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Trần Thị Mỹ D, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng vắng mặt không có lý do vậy Tòa án căn c vào đi m b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đ xét xử vắng mặt bà D và ông H là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn buộc bà Trần Thị Mỹ D phải có trách nhiệm trả số tiền vay là 61.900 000 đồng và tiền lãi phát sinh là 0,8%/tháng được tính từ ngày 01/1/2018 – đến ngày 30/11/2018 cho cho bà L và ông T; Hội đồng xét xử nhận định:

Mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc thu thập tài liệu ch ng c ; thông báo về phiên họp ki m tra việc tiếp cận công khai ch ng c và hòa giải nhưng bị đơn bà Trần Thị Mỹ D và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H đến Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật nhưng bà D và ông H không hợp tác, vắng mặt không có lý do Như vậy, bà D, ông H đã từ bỏ quyền ch ng minh ch ng c đ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên phải chịu hậu quả của việc không ch ng minh được theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

ăn c vào “giấy vay ngày 29/8/2017 (Al) do nguy n đơn cung cấp và các ch ng c khác do Tòa án nhân dân huyện Ea ar đã thu thập được nên vào ngày 05/9/2018 Tòa án nhân dân huyện Ea ar đã ra Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết Trần Thị Mỹ D tại giấy vay ngày 29/8/2017 (Al) (ký hiệu A1) và các mẫu so sánh bao gồm :

+ 01 biên bản giao nhận thông báo việc thu thập được tài liệu ch ng c và giấy triệu tập đương sự ngày 25/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar có mẫu chữ ký Trần Thị Mỹ D ở mục bên nhận. (ký hiệu M1)

+ 01 biên bản giao nhận thông báo thụ lý vụ án ngày 10/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar có mẫu chữ ký Trần Thị Mỹ D ở mục bên nhận. (ký hiệu M2)

Tại bản kết luận giám định số 101/PC09 ngày 25/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chữ ký chữ viết trong tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ viết Trần Thị Mỹ D tại các tài liệu so sánh kí hiệu M1, M2, là do cùng 1 người viết ra Do đó, đã đủ căn c ch ng minh vào ngày 29/8/2017 (Al) t c là ngày 18/10/2017 (Dl) bà Trần Thị Mỹ D có vay của gia đình bà Trần Thị L số tiền 61.900 000 đồng.

Trong giấy vay tiền xác định thời hạn trả nợ là vào mùa cà ph năm 2017, quá trình làm việc tại Tòa án nguy n đơn xác định là vào cuối năm 2017 t c là vào ngày 31/12/2017 bị đơn bà Trần Thị Mỹ D phải có trách nhiệm trả nợ số tiền 61.900.000 đồng. vì vậy bà Trần Thị Mỹ D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Khoản 1 Điều 466 và xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn được quy định tại Khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự.

Tại các điều luật tr n quy định:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Điều 470. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.

Đối chiếu với quy định trên cần buộc bà D phải trả nợ số tiền đã vay là có căn c . òn đối với ông H là chồng của bà D tuy vắng mặt tại Tòa án không có lý do nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, nguy n đơn cho rằng việc vay mượn này chỉ do một mình bà D đ ng ra vay ông H không biết việc này và cũng không ký t n vào trong giấy, đồng thời nguy n đơn cũng không yêu cầu ông H phải có trách nhiệm trả nợ cùng với bà D, xét đây là ý kiến của nguy n đơn n n HĐXX cần chấp nhận.

Về lãi suất: Nguy n đơn y u cầu tính lãi suất là 0,8%/tháng được tính từ ngày 01/1/2018 đến ngày 30/11/2018 HĐXX xét thấy, đối với yêu cầu này của nguy n đơn là phù hợp với Khoản 4 Điều 466, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 N n HĐXX cần chấp nhận, như vậy lãi suất được tính như sau:

(61 900 000 đồng x 0,8%/tháng x 10 tháng 29 ngày) = 5 430 693 đồng.

Nên cần buộc bị đơn bà Trần Thị Mỹ D phải trả tiền lãi suất là 5 430 693 đồng là phù hợp.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên, HĐXX cần buộc bà Trần Thị Mỹ D có trách nhiệm hoàn trả cho bà Trần Thị L và ông Võ Tá T số tiền nợ gốc là 61.900 000 đồng và tiền lãi suất là 5 430 693 đồng. Tổng cộng là: 67 330 693 đồng.

- Về chi phí giám định: Quá trình giải quyết vụ án nguy n đơn đã chi phí giám định hết 4.320 000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn được chấp nhận, nên cần buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguy n đơn 4.320 000 đồng tiền chi phí giám định.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn được chấp nhận. Nên bị đơn bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- ăn c vào Khoản 3 Điều 26, đi m a Khoản 1 Điều 35, đi m a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, đi m b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- ăn c vào các Điều 357, Điều 463, Khoản 1 và Khoản 4 Điều 466, Khoản 2 Điều 468, Khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự;

- ăn c vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Trần Thị L.

Buộc bà Trần Thị Mỹ D có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị L và ông Võ Tá T số tiền gốc nợ gốc là 61.900 000 đồng và tiền lãi suất là 5 430 693 đồng. Tổng cộng là: 67 330 693 đồng (Sáu mươi bảy triệu ba trăm ba mươi ngàn sáu trăm chín mươi ba đồng).

K từ ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ng với thời gian chưa thi hành án.

- Về chi phí giám định: Buộc bà Trần Thị Mỹ D trả cho bà Trần Thị L 4.320 000 đồng chi phí giám định.

2. Về án phí: ăn c Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đinh về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Trần Thị Mỹ D phải chịu 3.366.500 đồng (Ba triệu ba trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm đồng, đã làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm. (Theo m c 67.330.693 đồng x 5%)

Trả lại cho bà Trần Thị L số tiền tạm ng án phí 1.525.000 đồng (Một triệu năm trăm hai mươi lăm ngàn đồng) mà bà Lan đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ng án phí số AA/2016/0003416, ngày 03/05/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

Về quyền kháng cáo: ác đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, k từ ngày tuyên án.

Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phi n tòa được quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ