vanban.org

Bản án 41/2018/DS-ST — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Lê Thị P.

Buộc bà Lê Thị Kim O trả cho bà Lê Thị P số tiền 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng). Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra Quy t định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Lê Thị P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/DS-ST
Ngày: 15-11-2018
V/v Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành ph n Hội đ ng t

ơ thẩm g m c :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Phương Trang;

Ông Trương Thanh Phong;

- Thư k phiên tòa: Bà Võ Thị Bảo Ngọc là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã N.

- Đại diện Viện kiểm át nhân dân thị ã N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018 tại tr s Tòa án nhân dân thị xã N x t x sơ thẩm công khai v án th lý số: 162/2018/TLST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2018, theo Quy t định đưa v án ra x t x số: 83/2018/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2018 gi a các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị P sinh năm 1948;

Địa chỉ cư trú: ấp Bình Hòa Trung xã Thường Thới Hậu A huyện H tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc T là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ cư trú: số 47 đường Lê Hồng Phong khóm 3 phường An Thạnh, thị xã N tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn:

2.1. Bà Lê Thị Kim O sinh năm 1964;

2.2. Ông Đoàn Văn H sinh năm 1965;

Cùng địa chỉ cư trú: khóm An Thạnh A phường An Lộc thị xã N tỉnh Đồng Tháp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Tiệp K sinh năm 1977;

3.2. Bà Nguyễn Bích D sinh năm 1980;

Cùng địa chỉ cư trú: ấp Bình Hòa Trung xã Thường Thới Hậu A huyện H tỉnh Đồng Tháp.

(Bà P, Luật sư T bà O có mặt tại phiên tòa; Ông K, bà D vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 16/8/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị P trình bày: Vào năm 2012 bà có nhờ con trai bà là Nguyễn Tiệp K vay giùm bà số tiền 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng) của Ngân hàng Dầu khí – Chi nhánh thị xã N vì bà là người cao tuổi. Trước khi vay tiền thì em gái bà là bà Lê Thị Kim O có nhờ bà vay số tiền trên để chia lại cho bà O vay 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) m c đích để làm ăn bà O thỏa thuận với bà là sẽ trả lãi cho bà theo lãi suất của ngân hàng. Sau khi vay tiền xong thì con trai bà là ông Nguyễn Tiệp K giao trực ti p cho bà Lê Thị Kim O nhận số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) trước sân tr s Ngân hàng Dầu khí – Chi nhánh thị xã N. Việc bà Lê Thị Kim O hỏi vay tiền của bà không có làm biên nhận không làm giấy tờ gì nhưng chồng bà O là ông Đoàn Văn H bi t việc này ngoài ra còn có ông Lê Văn L bà Lê Thị L và các chị em trong gia đình đều bi t việc này vì hàng năm khi đ n đám giỗ của cha bà cúng tại nhà ông Lê Văn L thì bà và bà O đều có trao đổi với nhau về việc bà yêu cầu bà O trả tiền nhưng bà O không thống nhất trả tiền cho bà. Trong thời gian vay bà Lê Thị Kim O có trả vốn cho bà được 02 (hai) lần là 8.000.000đ lần đầu là năm 2014 bà O trả được 7.000.000đồng (bà O đưa tiền trực ti p cho bà nhận tại nhà của bà O) lần thứ hai là đầu năm 2018 bà O trả thêm được 1.000.000đồng (lần này thì bà O giao tiền cho con gái bà tên Nguyễn Bích D nhận tại nhà của ông Lê Văn L) cả hai lần đều không làm biên nhận. Như vậy vợ chồng bà O và ông H còn nợ lại bà 42.000.000đồng (Bốn mươi hai triệu đồng). Hiện nay bà đã bán tài sản trả số tiền 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng) cho Ngân hàng xong. Nhưng bà O và ông H vẫn chưa trả đủ số tiền còn thi u lại cho bà. Nay bà yêu cầu bà Lê Thị Kim O và ông Đoàn Văn H liên đới trả cho bà số tiền còn thi u là 42.000.000đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) không yêu cầu tính lãi.

N u yêu cầu của bà không được Tòa án chấp nhận thì bà không có yêu cầu gì đối với con trai bà là ông Nguyễn Tiệp K.

Tại phiên tòa hôm nay bà P xác định bà không bi t việc bà O và ông H mượn số tiền 50.000.000đ của bà về để s d ng vào m c đích gì.

- Theo bản khai ngày 28/8/2018, ngày 11/9/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của bị đơn ông Đoàn Văn H và bà Lê Thị Kim O thống nhất trình bày: Việc bà P cho rằng ông bà có nhờ bà P vay tiền của Ngân hàng Dầu khí – Chi nhánh thị xã N để cho ông bà vay lại là không có. Ông bà không thừa nhận có vay số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) của bà Lê Thị P. Ông bà cũng không thừa nhận có nhận tiền gì của ông Nguyễn Tiệp K (con trai bà P) giao số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) trước sân tr s Ngân hàng Dầu khí – Chi nhánh thị xã N như lời bà P trình bày. Việc bà P cho rằng hàng năm khi đ n đám giỗ cha cúng tại nhà ông Lê Văn L bà O và bà P đều có trao đổi với nhau về việc bà P yêu cầu bà O trả tiền nhưng bà O không thống nhất trả tiền cho bà P là không có. Ông bà cũng không có trả tiền gì cho bà P số tiền 8.000.000đồng như bà P trình bày. Nay ông bà không thống nhất trả số tiền 42.000.000đồng cho bà Lê Thị P vì ông bà không vay mượn tiền gì của bà Lê Thị P cũng không có nhận tiền gì do ông Nguyễn Tiệp K giao.

Ông bà không có yêu cầu gì đối với bà P về số tiền 7.000.000đồng mà bà P cho rằng bà O đã giao trả cho bà P.

Ông bà không có yêu cầu gì đối với bà Nguyễn Bích D về số tiền 1.000.000đồng mà bà P cho rằng bà O đã giao cho bà D để trả cho bà P.

Tại phiên tòa hôm nay, bà O thừa nhận gi a bà và ông Lê Văn L bà Lê Thị L bà Lê Ngọc T bà Trần Thị N bà Nguyễn Bích D không có mâu thuẫn gì. Bà O xác nhận quan hệ vợ chồng gi a bà và ông Đoàn Văn H vẫn đang tồn tại và hợp pháp. Trong đời sống chung gi a vợ chồng dù chuyện lớn chuyện nhỏ gì hai vợ chồng cũng có sự trao đổi và đồng thuận với nhau.

- Theo biên bản khai ngày 03/10/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tiệp K trình bày: Vào năm 2012 ông trực ti p vay số tiền 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng) giùm cho mẹ ông là bà Lê Thị P tại Ngân hàng Dầu khí – Chi nhánh thị xã N. Trước đó dì của ông là bà Lê Thị Kim O có hỏi mẹ ông mượn số tiền 50.000.000đồng ông có chứng ki n việc này. Sau khi vay tiền xong thì mẹ ông cho bà Lê Thị Kim O mượn 50.000.000đồng ông là người trực ti p giao tiền cho bà O tại trước sân Ngân hàng Dầu khí – Chi nhánh thị xã N lúc ông giao tiền cho bà O thì chỉ có ông và bà O chứ không có mặt mẹ ông và không có ai khác chứng ki n. Việc ông giao tiền cho bà O mượn là làm theo lời của mẹ ông chứ không phải tiền của ông. Việc mẹ ông cho bà O mượn tiền hai bên không có làm giấy tờ gì và theo ông được bi t thì bà O có trả cho mẹ ông được 3.000.000đồng vào năm 2014. Nay mẹ ông đã trả nợ cho ngân hàng xong nhưng bà O mới trả được cho mẹ ông 8.000.000đồng (nh ng lần bà O trả tiền cho mẹ ông thì ông không có trực ti p chứng ki n mà chỉ nghe nói lại), bà O còn nợ lại mẹ ông 42.000.000đồng. N u yêu cầu của mẹ ông (bà Lê thị P) không được Tòa án chấp nhận thì ông không có yêu cầu gì đối với bà Lê Thị Kim O và ông Đoàn Văn H và n u bà Lê Thị P có yêu cầu ông trả lại số tiền 50.000.000đ ông cũng không đồng ý vì ông đã làm theo lời mẹ ông là đã giao tiền cho bà O mượn xong.

- Theo bản khai ngày 01/10/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Bích D trình bày: Bà bi t việc mẹ bà là bà Lê Thị P có cho bà Lê Thị Kim O mượn số tiền 50.000.000đồng vì hàng năm bà Phượng đòi tiền bà O tại nhà ông Lê Văn L bà O đều hứa trả dần cho bà P. Đầu năm 2018 tại nhà ông Lê Văn L bà O có đưa cho bà 1.000.000đồng đề trả tiền cho bà P việc này có mợ của bà là bà Trần Thị N (vợ ông Lê Văn L) chứng ki n.

N u yêu cầu của mẹ bà (bà Lê Thị P) không được Tòa án chấp nhận mà bà O có yêu cầu bà trả lại cho bà O số tiền 1.000.000đ mà bà nhận của bà O để trả cho bà P thì bà cũng thống nhất.

- Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N phát biểu ý ki n về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán Hội đồng x t x Thư ký phiên tòa và người tham gia tố t ng trong quá trình giải quy t v án từ khi th lý đ n trước khi Hội đồng x t x nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố t ng dân sự nhưng việc giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu còn chậm so với quy định. Về việc giải quy t v án đề nghị: Hội đồng x t x chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị P. Buộc bà Lê Thị Kim O và ông Đoàn Văn H trả cho bà Lê Thị P số tiền 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng) vì mặc dù bà P cho bà O và ông H mượn tiền không có làm giấy tờ bà O và H không thừa nhận nhưng các chị em trong gia đình như: Ông Lê Văn L bà Lê Thị L bà Lê Ngọc T bà Trần Thị N bà Nguyễn Bích D đều xác nhận việc bà Lê Thị Kim O có mượn tiền của bà Lê Thị P là có thật. Tại phiên tòa bà O thừa nhận gi a bà và ông L bà L bà T bà N bà D không có mâu thuẫn gì.

- Tại phiên tòa hôm nay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Mặc dù việc bà Phượng cho bà O mượn số tiền 50.000.000đ không có làm giấy tờ nhưng qua các lời khai của ông Lê Văn L bà Lê Thị L bà Lê Ngọc T bà Trần Thị N bà Nguyễn Bích D cũng đủ xác định lời trình bày của nguyên đơn là có thật nên đề nghị Hội đồng x t x chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị P. Buộc bà Lê Thị Kim O và ông Đoàn Văn H trả cho bà Lê Thị P số tiền 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng). Bà P không yêu cầu bà O và ông H trả tiền lãi cho bà P là có một phần thiệt thòi cho bà P nhưng bà P tự nguyện không yêu cầu tính lãi mong Hội đồng x t x xem x t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án được xem x t tại phiên toà và căn cứ vào k t quả tranh t ng tại phiên toà Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là v kiện tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản nên thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố t ng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Đoàn Văn H ông Nguyễn Tiệp K, bà Nguyễn Bích D vắng mặt tại phiên tòa nhưng tất cả đều có đơn xin vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị x t x vắng mặt các đương sự này. Vì vậy, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố t ng dân sự Tòa án ti n hành x t x vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.

Về nội dung vụ án:

- Xét yêu cầu của bà Lê Thị P yêu cầu bà Lê Thị Kim O và ông Đoàn Văn H liên đới trả cho bà số tiền còn thi u là 42.000.000đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) không yêu cầu tính lãi.

+ Việc bà P cho bà O mượn không có làm giấy tờ bà P cho rằng khi bà cho bà O mượn tiền có em trai ông Lê Văn L em gái bà Lê Thị L em gái bà Lê Ngọc T bi t và chính con trai bà là ông Nguyễn Tiệp K trực ti p giao số tiền 50.000.000đ cho bà O mượn. Mặc dù bà P cho bà O mượn không có làm giấy tờ nhưng qua xác minh thì nh ng người làm chứng như: Ông Lê Văn L bà Lê Thị L bà Trần Thị N bà Nguyễn Tuy t H xác định: Mặc dù họ không trực ti p chứng ki n việc bà P cho bà O vay tiền nhưng qua nhiều lần đám giỗ tại nhà ông L họ có trực ti p chứng ki n thấy bà P đòi tiền bà O nhưng bà O không chịu trả tiền cho bà P. Tại phiên tòa hôm nay bà Lê Thị L xác định có đ n Tòa án theo sự triệu tập của Tòa án để trình bày bản khai ngày 01/10/2018 bà L thống nhất nội dung bản khai ngày 01/10/2018 của bà không có gì thay đổi. Ông Lê Văn L, bà Lê Thị L, bà Lê Ngọc T bà Trần Thị N đều là chị, em với bà Lê Thị P và bà Lê Thị Kim O nên không thể có việc bênh vựt người này mà bỏ người kia. Do đó lời khai của họ là khách quan và có căn cứ.

+ Bà O không thừa nhận có trả cho bà P 8.000.000đ nhưng bà P thừa nhận bà O có trả cho bà P 8.000.000đ đây là sự tự nguyện của đương sự nên công nhận sự tự nguyện này. Số tiền 8.000.000đ mà bà O trả cho bà P được trừ vào số tiền 50.000.000đ mà bà O mượn của bà P nên bà Lê Thị Kim O còn thi u lại bà Lê Thị P 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng).

+ Trong quá trình giải quy t v án bà P cho rằng bà O mượn tiền của bà m c đích là để làm ăn và khi bà O mượn tiền của bà thì ông H có bi t. Mặc dù tại phiên tòa hôm nay bà O thừa nhận quan hệ vợ chồng gi a bà và ông Đoàn Văn H vẫn đang tồn tại và hợp pháp. Trong đời sống chung gi a vợ chồng bà dù chuyện lớn chuyện nhỏ gì hai vợ chồng cũng có sự trao đổi và đồng thuận với nhau. Nhưng tại phiên tòa hôm nay bà Phượng xác định bà không bi t việc bà O và ông H mượn số tiền 50.000.000đ của bà về để s d ng vào m c đích gì. Bà P cũng không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh ông Đoàn Văn H có bi t việc bà O mượn tiền của bà P, trong khi ông H không thừa nhận là có mượn tiền của bà Phượng nên việc bà Lê Thị P yêu cầu ông Đoàn Văn H có nghĩa v liên đới cùng với bà Lê Thị Kim O trả nợ cho bà Lê Thị P là không có căn cứ.

- X t đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N và đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có một phần căn cứ như nhận định trên nên Hội đồng x t x chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Từ nh ng nhận định trên, Hội đồng x t x x t thấy chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị P. Buộc bà Lê Thị Kim O trả cho bà Lê Thị P số tiền 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu kh i kiện của bà Lê Thị P được chấp nhận nên bà Lê Thị Kim O phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

U T ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 166, 288, 499 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26 khoản 1 Điều 35 Điều 147 Điều 227 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố t ng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên x :

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Lê Thị P.

Buộc bà Lê Thị Kim O trả cho bà Lê Thị P số tiền 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra Quy t định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đ n khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bà Lê Thị Kim O chịu 2.100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà Lê Thị P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (Bà Lê Thị P là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí theo quy định).

3. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Về quyền yêu cầu thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6 Điều 7 Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (s a đổi bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ