vanban.org

Bản án 41/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 23/02/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/02/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nh n yêu c u kháng cáo của ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị K, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn H, ông Huỳnh Văn M, ông Huỳnh Văn G và bà Lê Thị Bích N.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 96/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C. Ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị K, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn H, ông Huỳnh Văn M, ông Huỳnh Văn G và bà Lê Thị Bích N phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nh n yêu c u kháng cáo của ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị K, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn H, ông Huỳnh Văn M, ông Huỳnh Văn G và bà Lê Thị Bích N.
  • Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/DS-PT
Ngày: 23 - 02 - 2018
V/v: “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh

Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Huyền Trân

Ông Ngô Dũng

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Phước – Kiểm sát viên

Trong ngày 23 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 209/2017/TLPT-DS ngày 27 tháng 12 năm 2017 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 96/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 35/2018/QĐ-PT ngày 10 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2018/QĐ-PT ngày 29/01/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1971;

Cư trú: ố 288, t 10, ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt

2. Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1964; Vắng mặt

3. Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1968; Có mặt

4. Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1969; Có mặt

5. Ông Huỳnh Văn G, sinh năm 1947; Vắng mặt

Cùng cư trú: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

6. Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1966; Vắng mặt

Cư trú: Ấp L, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

7. Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1963; Vắng mặt

Cư trú: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

8. Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1973; Vắng mặt

Cư trú: Ấp K, xã V, huyện C, tỉnh An Giang

9. Bà Lê Thị Bích N, sinh năm 1956, Vắng mặt

Cư trú: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn:

1. Ông Huỳnh Hữu D, sinh năm 1962; Có mặt

2. Ông Huỳnh Tấn B, sinh năm 1981, Có mặt

Cùng cư trú: ố 291, t 10, ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

- Ng i c quy n l i ngh a v liên quan:

1. Bà Trương Thị N, sinh năm 1965; Có mặt

2. Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1989; Có mặt

3. Bà V Thị T, sinh năm 1988; Vắng mặt

4. Cháu Huỳnh Văn G, sinh năm 2010;

5. Cháu Huỳnh Đ c V, sinh năm 2014;

Cùng cư trú: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

Cháu G và V do anh T, bà T đại diện theo pháp lu t.

Ông T, bà T ủy quyền cho ông Huỳnh Hữu D theo văn bản ủy quyền ngày 12.7.2017. Có mặt

6. Ông Huỳnh Nhựt H, sinh năm 1977; Vắng mặt

7. Ông Huỳnh Thanh K, sinh năm 1981; Vắng mặt

8. Ông Huỳnh Thanh P, sinh năm, 1983; Vắng mặt

Cùng cư trú: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

9. Bà Huỳnh Thị E, sinh năm 1979; Vắng mặt

Cư trú: Ấp Phú Thư ng 3, xã Kiến An, huyện C, tỉnh An Giang.

10. Bà Huỳnh Thu H, sinh năm 1986, Vắng Mặt

Cư trú: Ấp K, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

- Ng i kháng cáo: nguyên đơn Huỳnh Văn P, Huỳnh Thị K, bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Thị L, bà Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn G, ông Huỳnh Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn P, trình bày: Ông là con ông Huỳnh Văn S (Chết năm 2006), lúc còn sống cha ông có diện tích đất 5171 m2 theo t Trích lục địa b ngày 18.9.1959. Năm 1993 cha ông kê khai đăng ký 2700 m2 đất nông nghiệp theo giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 01298 ngày 15.10.1993, còn lại 2.990 m2 chưa đư c cấp giấy, nguyên nhân do phía ông D, ông B, bà N, ông Tấn tranh chấp. Trước đây không nhớ năm nào cha ông có cho ông D, ông B, bà N, ông Tấn ở trên ph n đất th cư khoảng 160m, không có giấy t . Nay ông yêu c u ông D, ông B, bà N, ông Tấn phải tháo dỡ di d i các v t công trình kiến trúc có trên đất trả lại ph n đất cho ông.

Bà Lê Thị Bích N, Huỳnh Thị B, Huỳnh Thị B, Huỳnh Thị K, Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn H, Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn G trình bày: Chúng tôi là anh, chị em ru t với P, thống nhất như l i trình bày của P, ph n đất này trước đây ông n i chúng tôi cho ở nh ch không cho luôn, khi nào dòng họ c n sử dụng thì gia đình ông D, ông B, bà N, ông Tấn phải trả lại cho anh.

+ Bị đơn: Ông Huỳnh Hữu D, ông Huỳnh Tấn B, trình bày: Không đ ng ý theo yêu c u của các nguyên đơn. Cha, ông n i chúng tôi là Huỳnh Hữu X (chết năm 1995) mua diện tích đất này của ông Huỳnh Văn F(ông N i của P), khi mua không có giấy t gì nhưng có ngư i làm ch ng là ông Nguy n Văn A, Tr n Văn R, Mai Thanh Q, Huỳnh Văn I, Nguy n Thị C, Lê Thị O, Tr n Văn R biết rất rõ. Khi cha chúng tôi chết ông S có ra chỉ ranh chôn cất, năm 2000 ông S kiện, tại ban hòa giải xã hai bên thương lư ng xuống trụ ranh, ph n đất hiện nay chúng tôi chưa đư c cấp giấy nhưng chúng tôi đã làm ngh a vụ n p thuế đ y đủ. Phía gia đình P yêu c u trả lại diện tích đất trên chúng tôi không đ ng ý.

Ngư i có quyền l i ngh a vụ liên quan bà Trương Thị N trình bày: Thống nhất với l i trình bày của ông D, ông B, không có ý kiến nào khác.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 96/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:

Không chấp nh n yêu c u khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất của anh Huỳnh Văn P, Huỳnh Thị B, Huỳnh Thị K, Huỳnh Thị B, Huỳnh Thị T, Huỳnh Văn H, Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn G và Lê Thị Bích N.

Ngoài ra, án còn tuyên về án phí; chi phí định giá; quyền kháng cáo; quyền thi hành án và th i hiệu thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 03/10/2017, của ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị K, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn H, ông Huỳnh Văn M, ông Huỳnh Văn G và bà Lê Thị Bích N có đơn kháng cáo yêu c u Tòa án cấp phúc yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao g m:

- Xác minh làm r ngu n gốc đất và quá trình sử dụng đất của gia đình các ông bà;

- Ban hành văn bản yêu c u ở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh An Giang xác minh thông tin đất tranh chấp có nằm trong địa b của ông Huỳnh Văn i hay không.

- ửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C theo hướng bu c ông Huỳnh Hữu D, bà Nguy n Thị N, ông Huỳnh Thanh T, ông Huỳnh Tấn B tháo dỡ di d i nhà, v t kiến trúc trả lại cho các ông bà diện tích đất 267m2 mà gia đình các ông bà đã cho ông Huỳnh Hữu D, bà Nguy n Thị N, ông Huỳnh Thanh T, ông Huỳnh Tấn B ở nh tại các mốc điểm 1,2,3,4 với diện tích 267m2 theo bản vẽ hiện trạng ngày 23/6/2016 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh C.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu c u khởi kiện và yêu c u kháng cáo.

Bị đơn trình bày: Đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa phát biểu: Việc tuân theo pháp lu t tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và những ngư i tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định pháp lu t. Đề nghị H i đ ng xét xử cấp phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh An Giang căn c khoản khoản 1 Điều 308 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: Không chấp nh n yêu c u kháng cáo của Huỳnh Văn P, Huỳnh Thị K, bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Thị L, bà Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn G, ông Huỳnh Văn M; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 96/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C.

Sau khi nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa, căn c kết quả tranh lu n tại phiên tòa và nghe l i phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, H i đ ng xét xử xét thấy,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Về quan hệ pháp lu t, về thẩm quyền xét xử như nh n định của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng quy định của B lu t Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngày 22/9/2017, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn Huỳnh Văn P, Huỳnh Thị B, Huỳnh Thị K, Huỳnh Thị B, Huỳnh Thị T, Huỳnh Văn H, Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn G và Lê Thị Bích N với bị đơn ông Huỳnh Hữu D, ông Huỳnh Tấn B; ngư i có quyền l i ngh a vụ liên quan Trương Thị N, Huỳnh Thanh T, V Thị T, Huỳnh Văn G, Huỳnh Đ c V, Huỳnh Nhựt H, Huỳnh Thanh K, Huỳnh Thanh P, Huỳnh Thị E, Huỳnh Thu H, theo bản án số 96/2017/DS-ST. Đến ngày 03/10/2017, các nguyên đơn có đơn kháng cáo bản án. Xét về th i hạn kháng cáo, ngư i có quyền kháng cáo đã đảm bảo theo đúng qui định tại Điều 271, 272, 273 của B lu t Tố tụng dân sự năm 2015, nên thẩm quyền giải quyết phúc thẩm thu c Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo điểm b khoản 1 Điều 38 của B lu t Tố tụng dân sự năm 2015.

Về n i dung:

Các đương sự đều có l i khai thống nhất ph n diện tích đất 267m2 mà gia đình ông Huỳnh Hữu D, ông Huỳnh Tấn B đang sử dụng có ngu n gốc của ông Huỳnh Văn F(ông n i của các nguyên đơn). Nguyên đơn cho rằng gia đình của ông D ở tạm trên ph n đất của gia đình nguyên đơn, còn phía bị đơn thì cho rằng đã mua ph n đất này từ ông n i của các nguyên đơn.

H i đ ng xét xử xét: Phía nguyên đơn cho rằng gia đình nguyên đơn đã cho gia đình bị đơn ở tạm trên ph n đất đang tranh chấp, nay nguyên đơn đòi bị đơn phải trả lại là không có cơ sở. Bởi lẽ, các l i khai của những ngư i làm ch ng là những ngư i ở cùng xóm với ông P và ông D g m bà Nguy n Thị C, bà Lê Thị O, ông Tr n Văn M ( ểm), ông Nguy n Văn A và những ngư i có mối quan hệ bà con với các đương sự như ông Huỳnh Văn Thuyền, ông Mai Thanh Q, ông Tr n Văn Chanh, đều trình bày diện tích đất gia đình ông D đang sử dụng có ngu n gốc từ ông n i của ông D đã mua lại từ ông n i của ông P và sử dụng n định ph n đất này trên 60 năm, điều này phù h p với l i trình bày của bị đơn Huỳnh Hữu D. Mặt khác, thực tế trên ph n đất tranh chấp mà gia đình ông D, ông B đang sử dụng có ngôi m của cha ru t ông D đư c chôn cất từ năm 1995, cho thấy rằng nếu như chỉ cho ở tạm thì chắc chắn gia đình nguyên đơn sẽ không cho gia đình ông D chôn cất ngôi m tại ph n đất này. Tại phiên tòa sơ thẩm ông P khai trước đây gia đình ông có cho ông Huỳnh Văn Tấn ở nh , gia đình ông Tấn đã trả đất lại cho gia đình ông vào năm 2013 và gia đình ông D cũng sử dụng luôn cho đến nay (Biên bản phiên tòa ngày 22/9/2017 bút lục số 215). Nhưng tại Tại biên bản lấy l i khai ngày 15.01.2016 bà Lê Thị Nhạn (v ông Tấn) trình bày “Trước đây v ch ng tôi không có đất ở nên h i ông Huỳnh Hữu D cất nhà ở tạm, không có mua bán hay c m cố gì cả, năm 2014 tôi có mua đư c ph n đất khác nên dỡ nhà trả lại đất cho ông D…”. Ngoài ra nguyên đơn khai có thực hiện ngh a vụ đóng thuế luôn cả ph n đất của bị đơn đang ở nhưng tại biên bản xác minh ngày 07/7/2017 của Tòa án, l i khai của ông Nguy n Minh ơn (cán b thu thuế ấp Nhơn Hiệp, xã Nhơn Mỹ) thì gia đình của ông P chỉ n p thuế đối với ph n đất nông nghiệp đang canh tác và ph n đất th cư là nhà của ông P đang ở, ngoài ra thì không có n p thuế đối với ph n đất nào khác. Điều này thể hiện l i trình bày của nguyên đơn là không đúng.

Từ những phân tích trên cho thấy yêu c u khởi kiện của các nguyên đơn là không có cơ sở nên án sơ thẩm đã bác yêu c u khởi kiện của các nguyên đơn là có căn c .

Tại phiên tòa hôm nay, ngoài l i khai ra phía nguyên đơn cũng không cung cấp đư c ch ng c để ch ng minh cho yêu c u kháng cáo của mình nên không có cơ sở để H i đ ng xét xử cấp phúc thẩm xem xét khác mà ngh nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu c u kháng cáo của ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị K, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn H, ông Huỳnh Văn M, ông Huỳnh Văn G và bà Lê Thị Bích N không đư c chấp nên các ông bà phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

+ Khoản 1 Điều 308 của B lu t Tố tụng dân sự;

+ Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về m c thu, mi n, giảm, thu, n p quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Phúc xử:

- Không chấp nh n yêu c u kháng cáo của ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị K, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn H, ông Huỳnh Văn M, ông Huỳnh Văn G và bà Lê Thị Bích N.

- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 96/2017/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C.

Ông Huỳnh Văn P, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị K, bà Huỳnh Thị B, bà Huỳnh Thị T, ông Huỳnh Văn H, ông Huỳnh Văn M, ông Huỳnh Văn G và bà Lê Thị Bích N phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm, đư c trừ vào 300.000đ tiền tạm ng kháng cáo đã n p theo biên lai thu số 0014366 ngày 03/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.

Trư ng h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền th a thu n thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Lu t Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ