vanban.org

Bản án 41/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Tuyên án 21/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Như Đ - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
!HUYỆN BÌNH!LỤC!
!!!!TỈNH!HÀ!NAM!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản!án số: 41/2017/HSST
Ngày 21/8/2017

NHÂN!DANH!!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!BÌNH!LỤC,!TỈNH!HÀ!NAM!

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Khánh và ông Nguyễn Huy Sự.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Giang Yên - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tấn - Kiểm sát viên.

Ngày 21/8/2017, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2017/HSST ngày 02/8/2017 đối với bị cáo:

Tạ!Như!Đ, sinh năm 1974; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã ĐL, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú hiện nay: Thôn T, xã TĐ, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Tạ Như M và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị S và có hai con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 12/5/2017 và bị tạm giam từ ngày 21/5/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên toà.

NHẬN!THẤY:!

Bị cáo Tạ Như Đ bị Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/5/2017, tại ngã tư Phố P thuộc tiểu khu B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam, lực lượng Công an huyện B phối hợp cùng

1

Công an thị trấn B phát hiện Tạ Như Đ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, Đ đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 (một) gói chất bột dạng cục màu trắng được gói ngoài bằng nilon màu xanh, bên trong là giấy bạc màu vàng và khai nhận đó là Hêrôin đang cất giữ hộ người khác để cùng sử dụng. Lực lượng Công an huyện B đã đưa Đ cùng vật chứng về trụ sở UBND thị trấn B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng trong phong bì ký hiệu QT.

Quá trình điều tra, Tạ Như Đ khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 12/5/2017, Đ đang ngồi uống nước ở quán ven đường thuộc ngã tư Phố P, thị trấn B thì có đối tượng tên V (là người trước đây làm thuê với Đ và đã cùng Đ sử dụng Hêrôin) đi xe mô tô đến chỗ Đ hỏi vay Đ 100.000 đồng. Đ đưa cho V 100.000 đồng, V cầm tiền và nói “Ngồi chờ em tý” rồi điều khiển xe mô tô đi, khoảng 30 phút sau V quay lại đưa cho Đ 01 gói được gói ngoài bằng nilon màu xanh và nói “Anh cầm hộ em gói thuốc phiện và chờ em cùng sử dụng” rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi. Đ cầm gói ma túy trong tay trái chờ V quay lại cùng nhau sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 87/PC54-MT ngày 14/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc trong mẫu ký hiệu QT gửi giám định có trọng lượng là 0,252 gam, có Hêrôin. Hêrôin là chất ma túy nằm trong danh mục: I, STT: 20, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 42/KSĐT - MT ngày 01/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Tạ Như Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số Hêrôin đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói mẫu vật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,

2

XÉT!THẤY:!

Tại phiên toà, bị cáo Tạ Như Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.

Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/5/2017, tại ngã tư Phố P thuộc tiểu khu B, thị trấn B, huyện B, bị cáo Tạ Như Đ đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói chất bột dạng cục màu trắng có trọng lượng 0,252 gam có Hêrôin với mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện B phối hợp với Công an thị trấn B phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lí chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xử lí nghiêm khắc, cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt cũng xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn, vì vậy bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử thấy rằng tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù là nhẹ hơn so với mức hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Đây là sửa đổi quy định của Bộ luật hình sự theo hướng có lợi cho người phạm tội, vì vậy cần phải áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

3

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản đối với Tạ Như Đ thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là đối tượng nghiện ma túy, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số Hêrôin: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành điều tra, xác minh đối tượng tên V nhưng không xác định được. Do vậy không đủ tài liệu xác định nguồn gốc số Hêrôin cũng như hành vi sử dụng Hêrôin của Đ và đối tượng có liên quan để xử lí.

Về vật chứng của vụ án: Đối với số Hêrôin đã thu giữ của bị cáo Đ gửi đi giám định được hoàn trả lại là vật cấm lưu hành, do vậy cần tịch thu tiêu huỷ.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

1.!Tuyên!bố: Bị cáo Tạ Như Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Tạ Như Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 12/5/2017.

2.! Về! vật! chứng! của! vụ! án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ số Hêrôin được niêm phong trong phong bì có số 87/PC54-MT, có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/8/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện B).

3.!Về!án!phí:!Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và Danh mục án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Tạ Như Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. N¬i!nhËn:

tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TAND tØnh Hµ Nam;

ThÈm ph¸n – Chñ täa phiªn tßa

- VKSND huyÖn B;

- Chi côc THADS huyÖn B;

- C«ng an huyÖn B;

- BÞ c¸o;

- L­u HS, VP.

NguyÔn §øc Th¹o

5

6

7

Cỡ chữ