vanban.org

Bản án 41/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Yến T với bị đơn ông Phan Xuân S về tranh chấp ly hôn.

Công nhận sự thỏa thuận của bà Đào Thị Yến T và ông Phan Xuân S về việc thuận tình ly hôn. Về con chung: Giao cháu Phan Minh T, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2009 và cháu Phan Minh Tr, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2011 cho bà Đào Thị Yến T trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Yến T với bị đơn ông Phan Xuân S về tranh chấp ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 41/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 14-8-2017
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Phú

Bà Lê Thị Thiện

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2017, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã T, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 784/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2017 về việc Ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 41/2017/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2017, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đào Thị Yến T, sinh năm 1973; địa chỉ thƣờng trú: Số 100/36 đƣờng Đ, Phƣờng 1, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ tạm trú: Số 102A/3, khu phố T, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Phan Xuân S, sinh năm 1971; địa chỉ thƣờng trú: Số 146, khu phố 4, phƣờng 1, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; địa chỉ tạm trú: Số 102A/3, khu phố T, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đào Thị Yến T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Yến T và ông Phan Xuân S tự nguyện tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại UBND Phƣờng 1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 96, Quyển số 01 ngày 14 tháng 10 năm 2008. Qúa trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc do có mâu thuẫn. Đến năm 2014 mâu thuẫn trầm trọng hơn, nguyên nhân là do ông S không tôn trọng bà; thƣờng xuyên nói bà là ngu dốt, đẳng cấp thấp; hay la hét nói lớn tiếng và nói bà là đồ mất dạy; ông S luôn cho rằng mình là ngƣời học cao hiểu rộng nên coi thƣờng bà ít học; tự quyết định mọi vấn đề không có sự bàn bạc với bà; khi xảy ra mâu thuẫn ông S luôn đổ lỗi cho bà. Nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên bà T yêu cầu đƣợc ly hôn với ông S.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phan Minh T, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2009; cháu Phan Minh Tr, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2011. Khi ly hôn bà T yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng hai con. Bà T không yêu cầu ông S phải cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 19 tháng 7 năm 2017, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Phan Xuân S trình bày:

Ông S thống nhất lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân, con chung. Riêng về mâu thuẫn vợ chồng không nhƣ bà T trình bày, cụ thể: Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2015 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà T có thành kiến với mẹ chồng; hay dằn vặt tỏ thái độ không vui khi vợ chồng sống chung với nhau; không có sự thống nhất về việc chăm sóc con; vì công việc, ông không thƣờng xuyên chăm sóc vợ nên bà T nghĩ là ông không thƣơng vợ. Nay, mâu thuẫn vợ chồng chƣa đến mức trầm trọng, nhƣng bà T cƣơng quyết yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.

Về con chung: Khi ly hôn ông S yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cháu Phan Minh T; ông đồng ý giao cháu Phan Minh Tr cho bà T trực tiếp nuôi dƣỡng. Ông S không yêu cầu bà T phải cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã đƣợc Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những ngƣời tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà T khởi kiện ông S yêu cầu ly hôn, ông S hiện đang tạm trú tại số 102A/3, khu phố T, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thị xã Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Yến T và ông Phan Xuân S tự nguyện tìm hiểu chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND Phƣờng 1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 96, Quyển số 01 ngày 14 tháng 10 năm 2008, là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình tố tụng cũng nhƣ tại phiên toà hôm nay, bà T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên bà yêu cầu đƣợc ly hôn với ông S và đƣợc ông S chấp nhận. Xét, việc thuận tình ly hôn của bà T, ông S là tự nguyện nên Hội đồng xét xử công nhận.

Về con chung: Bà T, ông S thống nhất trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Phan Minh T, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2009; Phan Minh Tr, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2011. Khi ly hôn bà T yêu cầu giao cháu Phan Minh Tr cho bà trực tiếp nuôi dƣỡng và đƣợc ông S đồng ý. Xét, đây là sự tự nguyện của các đƣơng sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Riêng cháu Phan Minh T bà T, ông S không thống nhất về quyền nuôi con, cụ thể: Bà T yêu cầu giao con cho bà, nhƣng ông S không đồng ý và có yêu cầu giao con cho ông nuôi dƣỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, về điều kiện kinh tế bà T, ông S đều có công ăn việc làm, thu nhập ổn định. Tuy nhiên, hiện nay một mình ông S phải nuôi cha mẹ già trên 80 tuổi và một em bị bệnh tâm thần từ nhỏ; cháu T đang tuổi ăn học và sinh sống tại Bình Dƣơng, nhƣng ông S chƣa có nhà riêng; tại phiên tòa hôm nay ông S trình bày nghề nghiệp của ông là giáo viên, ông tự mở lớp dạy học tại thị xã T, ông là ngƣời tự quản lý lớp học và cũng là ngƣời trực tiếp dạy học nên hầu nhƣ thời gian từ 17 giờ chiều đến tối và thứ bảy, chủ nhật ông phải dạy học nên sẽ không đảm bảo về thời gian chăm sóc con. Trong khi đó, công việc của bà T là nhân viên chăm sóc khách hàng của Công ty Cổ phần N, thời gian làm việc bán thời gian ngày làm 03 giờ nên sẽ đảm bảo thời gian chăm sóc con; bà T đã có nhà riêng ở phƣờng L và hiện nay mẹ con bà đang sinh sống tại đây. Mặt khác, tại biên bản lấy lời khai ngày 31 tháng 7 năm 2017 thì nguyện vọng của cháu T là muốn sống với mẹ vì không muốn xa em. Do đó, để đảm bảo sự phát triển tốt nhất về tâm sinh lý cho con và xét nguyện vọng của cháu T nên yêu cầu của bà T đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông S cấp dƣỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Yến T với bị đơn ông Phan Xuân S về tranh chấp ly hôn.

- Công nhận sự thỏa thuận của bà Đào Thị Yến T và ông Phan Xuân S về việc thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao cháu Phan Minh T, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2009 và cháu Phan Minh Tr, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2011 cho bà Đào Thị Yến T trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục.

- Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Thị Yến T về việc không yêu cầu ông Phan Xuân S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai đƣợc cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Đào Thị Yến T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0015539 ngày 05 tháng 7 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ