- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Dũng - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tiến D, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 409/2025/HS-PT Ngày: 14/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hạnh;
Các Thẩm phán:
Bà Hoàng Thị Bích Hải;
Bà Đặng Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 360/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Tiến D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Tiến D, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số nhà A, đường T, tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Q (đã chết) và bà Phạm Thị Đ (đã chết); có vợ là Hoàng Thị P, sinh năm 1971, có 02 con (con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú"; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Hà Thị H, Mai Thị Kim Y, Nguyễn Thị H1 không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang đối tượng Hà Thị H, sinh năm 1966, trú tại tổ B, phường M, thành phố H, tỉnh Hà Giang đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề trên điện thoại di động.
Căn cứ kết quả kiểm tra, xác minh, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H tiến hành triệu tập các đối tượng: (1)Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1968, (2)Nguyễn Tiến D, sinh năm 1964, cùng trú tại tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang; (3) Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956, trú tại tổ C, phường M, thành phố H, tỉnh Hà Giang; (4)Hà Thị Đ1, sinh năm 1965, trú tại tổ B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang; (5)Phạm Ngọc Đ2, sinh năm 1969, trú tại tổ B, phường M, thành phố H, tỉnh Hà Giang; (6)Mai Thị Kim Y, sinh năm 1970, trú tại tổ C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang.
Căn cứ kết quả điều tra, tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 04/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H ra quyết định khởi tố vụ án đánh bạc, phát hiện ngày 01/10/2024 tại thành phố H và ra các quyết định khởi tố bị can đối với: Nguyễn Tiến D, Nguyễn Tuấn A, Hà Thị H, Nguyễn Thị H1, Mai Thị Kim Y về tội "Đánh bạc".
* Về cách thức mua bán số lô, số đề của các bị cáo và người liên quan được thực hiện như sau:
- Đối với tất cả các số lô, số đề đã mua trong ngày, được đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày; số đề mua được tính trả thưởng khi trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt; số ba càng được tính trả thưởng khi trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt; số lô được tính trả thưởng khi trùng với 02 số cuối của tất cả các giải; số lô xiên 2, lô xiên 3, lô xiên 4 tương ứng khi trùng với 02 cặp số, 03 cặp số hoặc 04 cặp số của 02 số cuối tất cả các giải (gồm 27 giải thưởng).
- Số đề được tính tỷ lệ cá cược là 1 x 70 lần; ba càng tỷ lệ cá cược 1 x 350 lần; lô điểm tỷ lệ cá cược 01 điểm x 80.000đ, số lô tiền tỷ lệ 1 x 3,5 lần; lô xiên 2 tỷ lệ cá cược 1 x 10 lần; lô xiên 3 tỷ lệ cá cược 1 x 40 lần, lô xiên 4 tỷ lệ cá cược 1 x 100 lần.
- Người mua số lô, số đề sẽ phải gửi tin nhắn SMS hoặc tin nhắn trên ứng dụng Zalo qua điện thoại di động, quy định giờ chốt nhận số lô là đến 18 giờ 14 phút, giờ chốt nhận số đề, ba càng là 18 giờ 29 phút. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày, các bị cáo sẽ tính tiền mua (được trừ phần trăm triết khấu) và tiền trúng thưởng, sau đó chốt số tiền thắng thua và thanh toán tiền cho nhau theo thỏa thuận. Số tiền thanh toán cho nhau trực tiếp bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua ngân hàng.
* Về hành vi phạm tội của các bị cáo được xác định ngày 01/10/2024 như sau:
- Bị cáo Nguyễn Tiến D: Bị cáo D sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đỏ, trắng, bên trong có lắp sim 0858.481.888 (đăng ký chính chủ) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A52 màu xanh đen, bên trong lắp sim 0346.134.355 (sim rác) để nhận các tin nhắn mua số lô, số đề của thư ký và người chơi gửi đến như sau:
(1)
Bị cáo Nguyễn Tuấn A (là thư ký) mua số lô, số đề của bị cáo D với số đề giá 72%, lô điểm giá 21.800đ/điểm; lô tiền chuyển 95,5%. Hồi 18 giờ 11 phút, bị cáo Tuấn A sử dụng tài khoản zalo "Anh V" gửi 02 hình ảnh có nội dung mua số lô, số đề đến tài khoản zalo "Kính ỏng 2" của bị cáo D số tiền 11.850.000đ (tiền đề là 10.850.000đ; tiền lô: 1.000.000đ), không thắng cược.
(2)
Bị cáo Mai Thị Kim Y (là người chơi bạc) mua giá số lô là 22.000đ/01 điểm và số đề là 75% với D. Vào hồi 18 giờ 07 phút bị cáo Y nhắn tin đến số thuê bao 0858.481.888 của bị cáo D mua số lô, số đề với tổng số tiền là 6.290.000đ (số tiền lô 4.810.000đ, thắng cược 15 điểm lô, số tiền: 1.200.000đ + 280.000đ tiền đề).
Căn cứ kết quả điều tra xác định, bị cáo Nguyễn Tiến D là chủ đề, ngày 01/10/2024 bị cáo D đã bán lô, số đề cho 01 thư ký và 01 người chơi với tổng số tiền là 16.940.000đ, sau khi trừ phần trăm chiết khấu số tiền thực tế bị cáo nhận được là 13.697.000đ, người chơi thắng cược số tiền 1.200.000đ, sau khi lấy số tiền thực tế nhận được trừ đi số tiền phải trả cho người chơi thắng cược thì bị cáo thu lợi bất chính 12.497.000đ. Số tiền bị cáo đánh bạc là tiền bán số lô, số đề cộng với tiền người chơi thắng cược là 18.140.000đ.
- Bị cáo Nguyễn Tuấn A: Bị cáo Tuấn A sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, lắp sim 0339.785.042 (sim rác) để nhận tin nhắn mua số lô, số đề của 03 người chơi với giá số đề là 75%, giá lô 22.000đ/điểm, lô tiền tính 97%, cụ thể:
(1)
Bị cáo Hà Thị H, mua số lô, số đề với số tiền 10.650.000đ.
(2)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Ngọc Đ2, mua số lô số đề với số tiền 1.200.000đ (tiền lô 1.000.000đ; tiền đề: 200.000đ).
(3)
Bị cáo Nguyễn Thị H1, mua số lô, số đề với số tiền là 2.280.000đ.
Bị cáo Tuấn A sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, lắp sim 0912.606.344 đăng nhập tài khoản zalo "Anh V" để nhận tin nhắn mua số lô, số đề của Hà Thị Đ1, tài khoản zalo "Xót".
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hà Thị Đ1, mua số lô, số đề với số tiền 2.700.000đ (tiền đề 1.600.000đ; tiền lô 1.100.000đ).
Căn cứ kết quả điều tra, dữ liệu điện tử thu thập được xác định ngày 01/10/2024, bị cáo Nguyễn Tuấn A nhận tin nhắn mua số lô, số đề của người chơi với tổng số tiền là 16.830.000đ. Sau đó, bị cáo sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, lắp sim 0912.606.344 chụp lại tin nhắn đã mua số lô, số đề của Hà Thị H, Phạm Ngọc Đ2 từ chiếc Iphone 7 màu hồng, lắp sim 0339.785.042 chuyển cho bị cáo Nguyễn Tiến D đến tài khoản zalo "Kính ỏng 2" số tiền 11.850.000đ, phần chuyển đi người chơi không thắng cược, Tuấn A được hưởng hoa hồng 340.500đ. Bị cáo giữ lại số tiền 4.980.000đ (sau khi trừ tiền triết khấu phần trăm cho người chơi số tiền thực tế giữ lại nhận được là 4.010.000đ), phần giữ lại người chơi thắng cược 4.200.000đ. Xác định tổng số tiền đánh bạc bị cáo giữ lại là 9.180.000đ. Do số tiền nhận được ít hơn so với số tiền người chơi thắng cược nên bị cáo bị thua cược số tiền 4.200.000đ
- 4.010.000đ = 190.000đ.
Số tiền bị cáo nhận của người chơi rồi chuyển đi để hưởng hoa hồng là 11.850.000đ (người chơi không thắng cược), được hưởng hoa hồng 340.500đ.
Vì vậy, xác định tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Tuấn A bao gồm số tiền bị cáo giữ lại trực tiếp đánh bạc với người chơi, số tiền người chơi thắng cược và số tiền chuyển đi để hưởng hoa hồng là 4.980.000đ + 4.200.000đ + 11.850.000đ = 21.030.000đ.
- Bị cáo Hà Thị H: Vào hồi 17 giờ 45 phút ngày 01/10/2024, bị cáo H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng bên trong lắp 01 số thuê bao 0912.646.660 (đăng ký chính chủ) để thực hiện hành vi gửi tin nhắn SMS mua số đề với giá 75% của bị cáo Nguyễn Tuấn A với số tiền đề 10.650.000đ, sau khi trừ triết khấu phần trăm được triết khấu số tiền thực tế bị cáo phải trả là 7.987.500đ (nhưng chưa thanh toán) và không thắng cược.
- Bị cáo Mai Thị Kim Y: Bị cáo Y sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, lắp sim số thuê bao 0328.384.471 (đăng ký chính chủ) để thực hiện hành vi gửi tin nhắn SMS mua số lô với giá là 22.000đ/01 điểm và số đề là 75% với bị cáo D. Vào hồi 18 giờ 07 phút, bị cáo Y nhắn tin đến số thuê bao 0858.481.888 của bị cáo D mua số lô, số đề với tổng số tiền là 6.290.000đ (số tiền lô 4.810.000đ, thắng cược 15 điểm lô, số tiền 1.200.000đ + 280.000đ tiền đề). Sau khi trừ đi số tiền được chiết khấu phần trăm, số tiền thực tế bị cáo phải trả cho bị cáo D để mua số lô, số đề là 4.945.000đ, sau khi trừ đi số tiền thắng cược, bị cáo thua bạc với số tiền thực tế 4.945.000đ - 1.200.000đ = 3.745.000đ.
- Bị cáo Nguyễn Thị H1: Vào hồi 16 giờ 48 phút ngày 01/10/2024, bị cáo H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu TCL màu đen, bên trong lắp số thuê bao 0945.413.226 để thực hiện hành vi gửi tin nhắn SMS mua số đề với giá là 75% của bị cáo Nguyễn Tuấn A với số tiền đề 2.280.000đ, thắng cược số tiền 4.200.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 6.480.000đ. Sau khi trừ đi số tiền được chiết khấu phần trăm, số tiền thực tế bị cáo phải trả để mua số lô, số đề là 1.710.000đ, số tiền trúng thưởng trừ đi số tiền thực tế phải trả bị cáo thắng cược số tiền là 4.200.000đ - 1.710.000đ = 2.490.000đ.
Trong vụ án này còn xác định 02 trường hợp liên quan có hành vi đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề ngày 01/10/2024 không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:
(1)
Phạm Ngọc Đ2, sinh năm 1969, trú tại tổ B, phường M, thành phố H, tỉnh Hà Giang. Vào hồi 17 giờ 55 phút, Đ2 sử dụng số điện thoại XIAOMI, số thuê bao 0993.231.169 gửi tin nhắn đến số điện thoại 0339.785.042 của bị cáo Nguyễn Tuấn A để mua số lô, số đề với tổng số tiền 1.200.000đ (tiền lô 1.000.000đ; tiền đề 200.000đ), không thắng cược.
(2)
Hà Thị Đ1, sinh năm 1965, trú tại tổ B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang. Vào hồi 17 giờ 35 phút ngày 01/10/2024, Đ1 sử dụng điện thoại OPPO màu trắng, với tài khoản Zalo có tên "X" nhắn tin đến tài khoản Zalo có tên "Anh V" của bị cáo Nguyễn Tuấn A để mua số lô, số đề với tổng số tiền 2.700.000đ (tiền đề 1.600.000đ; tiền lô 1.100.000đ), không thắng cược.
Ngày 22/11/2024, V1 - Bộ C ra Bản Kết luận giám định số 8425/KL-KTHS, cung cấp toàn bộ dữ liệu khôi phục và trích xuất được của các điện thoại tạm giữ của các bị cáo, phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang đã quyết định:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến D 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024.
Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D số tiền 15.000.000đ.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Hà Thị H, Mai Thị Kim Y, Nguyễn Thị H1, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/01/2025 bị cáo Nguyễn Tiến D kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến D giữ nguyên nội dung kháng cáo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo. Đồng thời, xác định số tiền 16.400.000 đồng bị cáo D nộp tại Biên lai thu tiền ngày 16/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang là tiền phạt bổ sung (15.000.000 đồng) và truy thu tiền sử dụng vào việc đánh bạc (1.400.000 đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo D xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo nộp tiền phạt và tiền thu lời bất chính theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, đây là tình tiết mới tại cấp phúc thẩm. Xét thấy bị cáo D có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình khó khăn (bị cáo mắc nhiều bệnh nền, có con bị tự kỷ) và số tiền đánh bạc không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
- Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D trong hạn luật định, hợp pháp theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh và hình phạt:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến D đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác là Nguyễn Tuấn A, Hà Thị H, Mai Thị Kim Y và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để khẳng định: Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, Phòng C1 Công an tỉnh H đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Hà Thị H thực hiện hành vi gửi tin nhắn SMS mua số đề với bị cáo Nguyễn Tuấn A với số tiền 10.650.000đ. Mở rộng điều tra xác định các bị cáo khác có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với số tiền là: Bị cáo Nguyễn Tiến D mua bán số lô, số đề với số tiền 18.140.000đ; bị cáo Nguyễn Tuấn A mua bán số lô, số đề với số tiền 21.030.000đ; bị cáo Mai Thị Kim Y mua bán số lô, số đề với số tiền 6.290.000đ; bị cáo Nguyễn Thị H1 mua bán số lô, số đề với số tiền 6.480.000đ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Tiến D, Nguyễn Tuấn A, Hà Thị H, Mai Thị Kim Y, Nguyễn Thị H1 về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Bị cáo Nguyễn Tiến D có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, đánh bạc với số tiền không lớn (18.140.000 đồng), phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo D xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo nộp tiền phạt, nộp tiền truy thu số tiền sử dụng vào việc đánh bạc theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo D mắc nhiều bệnh nền (tiểu đường, huyết áp, mỡ máu cao) phải thường xuyên vào bệnh viện điều trị, có con bị rối loạn tâm thần, tự kỷ. Xét thấy tại thời điểm xét xử phúc thẩm bị cáo D là người cao tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện để hưởng án treo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương có sự giám sát giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Do đó, có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D, cho bị cáo D được hưởng án treo như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Tiến D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tiến D, cụ thể như sau:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến D 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Tiến D cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Tiến D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự 2015.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Tiến D đã nộp 16.400.000 đồng gồm tiền phạt và tiền truy thu tại Biên lai thu tiền số 0000281 ngày 16/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Giang.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND tỉnh Hà Giang; - Công an tỉnh Hà Giang; - Cục THADS tỉnh Hà Giang; - UBND phường Trần Phú, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang; - Bị cáo (theo địa chỉ); - Lưu HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Phương Hạnh |