- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh Tuấn Kh - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 2015;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 409/2021/HS-PT Ngày: 24-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Thẩm phán: 1. ng Nguy n Văn u
2. ng V Văn
Thư ký phiên tòa: ng Tr ng ng – Th ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ng Trung Tu n - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số: 131/2021/TLPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Phạm Minh Tu n Kh, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2021/HS-ST ngày 26/02/2021 của Tòa án nhân dân huy n Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Minh Tu n Kh; Sinh năm: 1986, tại Kiên Giang; Hộ khẩu th ờng trú: X p Kinh A, xã T A, huy n T, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Nhà không số thuộc tổ 1, p 6B, xã V, huy n B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ h c v n: 10/12; Nghề nghi p: Làm thuê; Con ông Phạm Văn Ph (chết) và bà Mai Thị Ph; Vợ, con: Ch a có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có Ng ời đại di n hợp pháp của bị hại, không kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị, nên không tri u t p.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/07/2020, bà Lê Thị Lộc và bà Nguy n Thị Ng c an điều khiển xe đạp l u thông tr n đ ờng Võ Văn Vân theo h ớng từ Ngã 5 Vĩnh ộc về đ ờng Trần Văn Giàu để về nhà. Bà Lộc điều khiển xe đạp l u thông đúng chiều đ ờng sát lề phải, còn bà an điều khiển xe đạp đi n hi u Suzika có đội m bảo hiểm l u thông phía sau cùng chiều cách bà Lộc khoảng 03 mét. Khi đến tr ớc nhà số B7/20X thuộc p 2A, xã Vĩnh ộc B thì xe đạp đi n của bà Lan b t ngờ bị xe mô tô biển số 68T1-216.03 do Phạm Minh Tu n Kh điều khiển l u thông phía sau cùng chiều lao tới va chạm vào phía sau xe đạp đi n làm bà Lan té ngã. Sau va chạm, Khoa không làm chủ đ ợc tay lái nên xe mô tô biển số 68T1-216.03 tiếp tục lao tới phía tr ớc va chạm vào phía sau của xe đạp do bà Lộc điều khiển. Tai nạn xảy ra làm cả ba ph ơng ti n ngã xuống đ ờng, Khoa và bà Lan bị th ơng tích nhẹ, riêng bà Lộc bị b t tỉnh đ ợc đ a đi c p cứu tại b nh vi n Chợ Rẫy, đến ngày 25/7/2020, bà Lộc tử vong tại b nh vi n. Tại Bản kết lu n giám định pháp y về tử thi số 923/TT.20 ngày 18 tháng 08 năm 2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết lu n: Nguyên nhân tử vong của bà Lê Thị Lộc là do ch n th ơng s não. Tại Kết lu n giám định số 4402/C09B ngày 01/09/2020 của Phân vi n khoa h c hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết lu n giám định d u vết va chạm giữa các ph ơng ti n nh sau: D u vết tr ợt x ớc bám ch t màu nâu má trái lốp bánh tr ớc xe mô tô BS 68T1-216.03 có chiều ng ợc chiều quay tiến bánh xe phù hợp với d u vết tr ợt m t ch t màu nâu, bám ch t màu đen b n phải chân chống đứng xe đạp đi n hi u Suzika có chiều từ sau về tr ớc. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai ph ơng ti n. D u vết phía tr ớc bên phải xe mô tô BS 68T1-216.03 (tr ợt x ớc m t sơn, bám ch t màu nâu đầu phuộc giảm xóc tr ớc; tr ợt x ớc cao su má phải lốp bánh tr ớc) có chiều từ tr ớc về sau, d u vết trên bánh xe có chiều ng ợc chiều quay tiến phù hợp với d u vết phía sau b n trái xe đạp (tr ợt x ớc m t ch t màu nâu thanh cố định bên trái yên ng ời ngồi sau; tr ợt bám ch t màu đen khung s ờn xe nối trục bánh sau) có chiều từ sau về tr ớc, từ trên xuống d ới. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai ph ơng ti n. D u vết tr ợt x ớc đầu gác chân tr ớc xe mô tô biển số 68T1-216.03 có chiều từ tr ớc về sau phù hợp va chạm với mặt đ ờng. D u vết tr ợt x ớc các chi tiết b n trái xe đạp đi n hi u Suzika (tay phanh, ốp tay cầm lái, ốp nhựa đuôi xe) có chiều từ tr ớc về sau phù hợp va chạm với mặt đ ờng. D u vết tr ợt x ớc đầu tay lái b n trái xe đạp có chiều từ tr ớc về sau phù hợp va chạm với mặt đ ờng. Tr n cơ sở cơ chế hình thành d u vết và hồ sơ vụ tai nạn giao thông, xác định: Không phát hi n th y d u vết va chạm giữa xe mô tô biển số 68T1-216.03, xe đạp đi n hi u Suzika và xe đạp với ph ơng ti n hay v t cản khác. Khi xảy ra va chạm, xe mô tô biển số 68T1-216.03 chuyển động trên đ ờng Võ Văn Vân h ớng từ ngã 5 Vĩnh ộc đi đ ờng Trần Văn Giàu, xe đạp đi n hi u Suzika và xe đạp chuyển động phía tr ớc cùng chiều xe mô tô biển số 68T1-216.03.
Thứ tự va chạm giữa các ph ơng ti n: Xe mô tô biển số 68T1-216.03 va chạm vào phía sau bên phải xe đạp đi n hi u Suzika, sau đó tiếp tục chuyển động về tr ớc và va vào phía sau b n trái xe đạp.
Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 68T1-216.03 với xe đạp đi n hi u Suzika và xe đạp chiếu xuống mặt đ ờng nằm trên phần bên phải đ ờng Võ Văn Vân theo h ớng từ ngã 5 Vĩnh ộc đi đ ờng Trần Văn Giàu.
Tiến hành xác minh Gi y phép lái xe của Phạm Minh Tu n Kh, ngày 21/08/2020 Sở giao thông v n tải thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trả lời “Vào ngày 13/09/2004 Sở đã c p Gi y phép lái xe hạng A1 số S902313 cho ông Phạm Minh Tu n Kh, sinh năm 1986”.
Qua điều tra xác định: Nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông trên là do Phạm Minh Tu n Kh điều khiển xe mô tô biển số 68T1-216.03 l u thông không giữ khoảng cách an toàn, thiếu chú ý quan sát không làm chủ đ ợc tay lái, đã vi phạm Khoản 1, Điều 12 và Khoản 23 Điều 8 Lu t Giao thông đ ờng bộ, gây ra tai nạn giao thông làm bà Lê Thị Lộc tử vong.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Bình Chánh, Phạm Minh Tu n Kh đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ, tài li u đ ợc thu th p có trong hồ sơ vụ án.
V t chứng trong vụ án gồm có:
- 01 xe mô tô biển số 68T1-216.03, số khung RLHJ3610EY000558, số máy JA36E0002030 do Phạm Minh Tu n Kh đứng tên chủ sở hữu.
- 01 xe đạp đi n hi u Suzika do bà Nguy n Thị Ng c Lan mua và sử dụng làm ph ơng ti n đi lại.
- 01 xe đạp do anh Đoàn Quốc Duy là con ruột của bà Lộc mua cho bà Lộc sử dụng làm ph ơng ti n đi lại.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Bình Chánh đã làm thủ tục giao trả cả 03 ph ơng ti n trên cho các chủ sở hữu vào ngày 27/10/2020.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HSST ngày 26/02/2021 của Tòa án nhân dân huy n Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phạm Minh Tu n Kh 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11 tháng 3 năm 2021, bị cáo Phạm Minh Tu n Kh có đơn kháng cáo xin đ ợc h ởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Phạm Minh Tu n Kh đã khai nh n hành vi phạm tội đúng nh nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo không tranh lu n với Đại di n Vi n kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo đ ợc h ởng án treo, để có điều ki n chăm sóc mẹ già đang bị b nh.
- Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, phát biểu quan điểm về vi c xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án c ng nh lời khai của bị cáo Phạm Minh Tu n Kh tại phiên tòa phúc thẩm, xét th y bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Minh Tu n Kh về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ lu t Hình sự là có căn cứ đúng ng ời, đúng tội, đúng quy định của pháp lu t. Khi quyết định hình phát tòa án c p sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, mức án 01 năm tù Tòa án c p sơ thẩm đã tuyên phạt là t ơng xứng với tính ch t mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại c p phúc thẩm bị cáo không bổ sung đ ợc tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì v y đề nghị không ch p nh n kháng cáo xin h ởng án treo của bị cáo Phạm Minh Tu n Kh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định nh sau: [1] ời khai của bị cáo Phạm Minh Tu n Kh tại phi n tòa phúc thẩm phù hợp với các tài li u, chứng cứ đ ợc thu th p có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Qua đó đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/7/2020, Phạm Minh Tu n Kh điều khiển xe mô tô l u thông tr n đ ờng Võ Văn Vân thuộc p 2A, xã Vĩnh ộc B, huy n Bình Chánh, h ớng từ đ ờng Ngã 5 Vĩnh ộc về đ ờng Trần Văn Giàu. Khi đến tr ớc nhà số B7/20X, p 2A, xã Vĩnh ộc B, bị cáo đã điều khiển xe để phần đầu xe mô tô của bị cáo va chạm vào phía sau xe đạp đi n của bà Nguy n Thị Ng c an đang điều khiển phía tr ớc cùng chiều, sau va chạm, bị cáo không làm chủ đ ợc tay lái n n tiếp tục để xe của bị cáo lao tới phía tr ớc va chạm vào phía sau xe đạp do bà Lê Thị ộc đang điều khiển phía tr ớc cùng chiều, đi đúng phần đ ờng, làm cả ba ph ơng ti n cùng ng ời điều khiển ngã xuống đ ờng, Khoa và bà Lan bị th ơng tích nhẹ, ri ng bà ộc bị b t tỉnh đ ợc đ a đi c p cứu tại b nh vi n Chợ Rẫy, đến ngày 25/7/2020, bà ộc tử vong tại b nh vi n. Tại Bản kết lu n giám định pháp y về tử thi số 923/TT.20 ngày 18 tháng 08 năm 2020 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết lu n: Nguyên nhân tử vong của bà Lê Thị Lộc là do ch n th ơng s não. Với hành vi n u tr n, Tòa án c p sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Minh Tu n Kh về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ lu t hình sự và tuyên phạt bị cáo 01 năm tù. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo làm đơn kháng cáo xin đ ợc h ởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn lu t định, nên ch p nh n.
Xét nội dung kháng cáo xin h ởng án treo của bị cáo Phạm Minh Tu n Kh, Hội đồng xét xử nh n th y, Nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn là do bị cáo Phạm Minh Tu n Kh điều khiển xe mô tô, l u thông không giữ khoảng cách an toàn, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ đ ợc tay lái, đã gây tai nạn làm một ng ời tử vong, vi phạm vào khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Lu t giao thông đ ờng bộ. Tòa án c p sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ lu t hình sự là có cơ sở, đúng quy định của pháp lu t. Khi quyết định hình phạt, Tòa án c p sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ nh : Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, ch a có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã bồi th ờng cho gia đình bị hại và đ ợc ng ời đại di n hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại, theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự. Tr n cơ sở đó Tòa án c p sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Phạm Minh Tu n Kh mức án 01 năm tù, là phù hợp và cần thiết, nhằm đảm bảo công tác răn đe giáo dục ri ng đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội, góp phần làm giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp lu t khi tham gia giao thông đ ờng bộ trong nhân dân.
Xét th y trong vụ án này bị hại Thị ộc điều khiển xe đạp, l u thông đúng phần đ ờng, n n không có lỗi, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo Phạm Minh Tu n Kh. Tại c p phúc thẩm bị cáo c ng không bổ sung đ ợc tình tiết nào mới để xem xét. Nên không ch p nh n kháng cáo xin h ởng án treo của bị cáo Phạm Minh Tu n Kh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hi u lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo lu t định
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 2015;
Không ch p nh n kháng cáo xin đ ợc h ởng án treo của bị cáo Phạm Minh Tu n Kh. Giữ nguyên bản án sơ thẩm:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phạm Minh Tu n Kh 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi ch p hành án. [2] Bị cáo Phạm Minh Tu n Kh phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hi u lực pháp lu t, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [4] Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND C p Cao tại TP. CM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND huy n Bình Chánh; (1) - P.PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (3) - Sở T pháp (1) - THA huy n Bình Chánh; (2) - TAND huy n Bình Chánh; (2) - Công an huy n Bình Chánh; (1) - UBND nơi bị cáo c trú; (2) - u: VT, T S, hồ sơ; (26) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |