vanban.org

Bản án 409/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thanh H:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thanh H được ly hôn với ông Bùi Quốc A. Về con chung: Giao con chung tên Bùi Quốc H, sinh ngày 07/3/2019 cho bà Hồ Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Bùi Quốc A do bà H chưa có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - QA"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thanh H:
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 409/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 09/6/2021
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bảo Lâm

2. Bà Nguyễn Minh Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Trương Hà Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 49/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thanh H, sinh năm 1991; Địa chỉ thường trú: 69/20 B, Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh;

2. Bị đơn: Ông Bùi Quốc A, sinh năm 1984; Địa chỉ thường trú: 69/20 B, Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông Quốc A và bà H có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và các bản tự khai của nguyên đơn bà Hồ Thanh H trình bày: Bà và ông Bùi Quốc A tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 165 ngày 20/11/2017 do Ủy ban nhân Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.

Cuộc sống vợ chồng bình thường được một thời gian thì mâu thuẫn phát sinh, nguyên nhân là do cả hai bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề của cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, mặc dù đã nhiều lần hòa giải nhưng không thu được kết quả. Ông Quốc A rất gia trưởng, hoàn toàn không quan tâm gì đến vợ con. Thậm chí khi mang bầu và đi sinh thì ông Quốc A cũng chỉ như người xe ôm chở đi khám và ngồi ôm điện thoại không quan tâm gì. Khi mới sinh con được 05 tháng bà đã tưng đưa đơn thuận tình ly hôn cho ông Quốc A thì ông đã xé đơn và đánh bà. Cuộc sống hàng ngày ông Quốc A chỉ biết chăm lo bản thân, đi làm về cắm mặt vào điện thoại không quan tâm gì đến vợ và dạy dỗ con. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà không còn tình cảm yêu thương với ông Quốc A, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn để cả hai sớm ổn định cuộc sống riêng.

Từ buổi hòa giải trước cho đến nay mặc dù đã được Tòa án tạo điều kiện để vợ chồng về hàn gắn hòa giải nhưng ông Quốc A hoàn toàn không thay đổi gì, vẫn đi sớm về trễ không quan tâm gì đến vợ con. Mỗi lần nhắc đến vấn đề giải quyết ly hôn thì ông Quốc A chỉ chửi bà rồi bỏ đi chứ không thèm nói chuyện. Thậm chí con chung bị bệnh nhưng ông Quốc A cũng không quan tâm để mặc bà lo cho con.

Về con chung: ông bà có 01 con chung tên Bùi Quốc H, sinh ngày 07/3/2019. Ly hôn, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, nay vì ông Quốc A không hề quan tâm chăm sóc gì con nên bà không yêu cầu ông Quốc A cấp dưỡng nuôi con chung nữa.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn ông Bùi Quốc A trình bày: Ông không đồng ý ly hôn vì ông còn yêu thương vợ con, gia đình bên vợ cũng rất tốt, ông muốn giữ lại gia đình này cho con. Bà H trình bày mâu thuẫn vợ chồng như trên theo ông là do bà H còn trẻ con, tính cách bốc đồng, ông có thể hiểu và chấp nhận được việc đó.

Về con chung: ông bà có 01 con chung tên Bùi Quốc Hưng, sinh ngày 07/3/2019. Nếu phải ly hôn ông cũng yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà H và ông Quốc A vẫn không thống nhất ý kiến.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Hồ Thanh H: Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Bùi Quốc A; Về con chung bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bùi Quốc H, sinh ngày 07/3/2019, bà không yêu cầu ông Quốc A cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn ông Bùi Quốc A trình bày: Ông không đồng ý ly hôn vì ông còn yêu thương vợ con, vì con nên ông muốn giữ lại gia đình này. Theo ông bà H trình bày mâu thuẫn vợ chồng như trên là có tuy nhiên mâu thuẫn không lớn và xuất phát từ việc tính cách bà H còn trẻ con, thiếu suy nghĩ chín chắn, dễ suy diễn. Khi bà H lần đầu yêu cầu ly hôn ông có xé đơn quăng đi và la lớn tiếng chứ không đánh vợ. Cuộc sống vợ chồng trẻ đi thuê nhà còn nhiều khó khăn ông phải dành nhiều thời gian làm việc lo cho kinh tế gia đình nên hạn chế thời gian quan tâm vợ con; Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Quốc Hưng, sinh ngày 07/3/2019, nếu ly hôn hôn ông cũng yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thông qua việc kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Thực hiện tống đạt các quyết định cho các bên đương sự đầy đủ. Thẩm phán thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Hồ Thanh H có đơn khởi kiện về việc ly hôn với ông Bùi Quốc A, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Quốc A có nơi cư trú tại quận Tân Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thanh H:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 165 ngày 20/11/2017 do Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì hôn nhân của bà H và ông Quốc A là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà H cương quyết xin ly hôn với ông Quốc A do cả hai bất đồng quan điểm sống, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề của cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, mặc dù đã nhiều lần hòa giải nhưng không thu được kết quả gì. Ông Quốc A rất gia trưởng, hoàn toàn không quan tâm gì đến vợ con. Thậm chí khi bà mang bầu và đi sinh thì ông Quốc A cũng chỉ như người xe ôm chở đi khám và ngồi ôm cái điện thoại không quan tâm gì. Khi mới sinh được 5 tháng bà đã từng đưa đơn thuận tình ly hôn cho ông Quốc A thì ông đã xé đơn và đánh bà. Cuộc sống hàng ngày ông Quốc A chỉ biết chăm lo bản thân, đi làm về cắm mặt vào điện thoại không quan tâm gì đến vợ và dạy dỗ con. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà không còn tình cảm yêu thương với ông Quốc A, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn để cả hai sớm ổn định cuộc sống riêng. Từ buổi hòa giải trước cho đến nay mặc dù đã được Tòa án tạo điều kiện để vợ chồng về hàn gắn hòa giải nhưng ông Quốc A hoàn toàn không thay đổi gì, vẫn đi sớm về trễ không quan tâm gì đến vợ con. Mỗi lần nhắc đến vấn đề giải quyết ly hôn thì ông Quốc A chỉ chửi bà rồi bỏ đi chứ không thèm nói chuyện. Thậm chí con chung bị bệnh nhưng ông Quốc A cũng không quan tâm để mặc bà lo cho con.

Phía ông Quốc A không đồng ý ly hôn vì ông còn yêu thương vợ con, gia đình bên vợ cũng rất tốt, ông muốn giữ lại gia đình này cho con. Theo ông bà H trình bày mâu thuẫn vợ chồng như trên là có tuy nhiên mâu thuẫn không lớn và xuất phát từ việc tính cách bà H còn trẻ con, thiếu suy nghĩ chín chắn, dễ suy diễn. Khi bà H lần đầu yêu cầu ly hôn ông có xé đơn quăng đi và la lớn tiếng chứ không đánh vợ. Cuộc sống vợ chồng trẻ đi thuê nhà còn nhiều khó khăn ông phải dành nhiều thời gian làm việc lo cho kinh tế gia đình nên hạn chế thời gian quan tâm vợ con.

Qua trình bày của các đương sự Hội đồng xét xử xét thấy: Tuy ông Quốc A trình bày vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng mà chỉ là do bà H còn trẻ con, tính cách bốc đồng, ông có thể hiểu và chấp nhận việc đó. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã tạo điều kiện để hai bên tự hòa giải, giải quyết mâu thuẫn gia đình nhưng không có kết quả, ông Quốc A cũng không có phương án nào để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, bà H và ông Quốc A vẫn không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thậm chí đến phiên tòa hôm nay bà H đã thuê nhà khác để bà H và con chuyển ra ngoài sống mà ông Quốc A không biết. Xét thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa bà H và ông Quốc A đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.

Về con chung: Bà H và ông Quốc A xác định có 01 con chung tên Bùi Quốc Hưng, sinh ngày 07/3/2019, con chung hiện do bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Ly hôn, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Quốc A cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Quốc A cũng có yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung. Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên thương lượng thống nhất vì sự phát triển tốt nhất của con chung nhưng bà H bà ông Quốc A vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình qui định: Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Cả bà H và ông Quốc A đều nêu lý do để yêu cầu được trực tiếp nuôi con, cả hai đều có điều kiện về việc làm, kinh tế, chỗ ở ổn định để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên chỉ có bà H giao nộp những tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc có chỗ ở ổn định và có thu nhập việc làm đảm bảo cho việc nuôi con, điều kiện sinh hoạt của con đang ổn định. Hơn nữa trẻ Hưng hiện dưới 36 tháng tuổi. Do đó nhằm tránh làm xáo trộn đến cuộc sống ổn định của con chung, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử giao con chung tên Bùi Quốc Hưng cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà H không yêu cầu ông Quốc A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông Quốc A xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Theo Khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Hồ Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186, Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi bổ sung năm 2014

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thanh H:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thanh H được ly hôn với ông Bùi Quốc A.

- Về con chung: Giao con chung tên Bùi Quốc H, sinh ngày 07/3/2019 cho bà Hồ Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Bùi Quốc A do bà H chưa có yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi do các bên tự thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: cả hai khai không có.

2. Về án phí: Bà Hồ Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do bà H đã nộp theo biên lai số 0069038 ngày 20/01/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

4. Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ