- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ánh H3.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KV 9 THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 408/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-8-2025 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KV 9 - THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành T.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đinh Thị H3 H1;
2. Bà Tống Mỹ H2.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí N - Thư ký, Tòa án nhân dân KV 9
- Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân KV 9 – Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21/8/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân KV 9 - Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 412/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ánh H3, sinh năm 1985; Căn cước công dân số: do Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 11/8/2021; địa chỉ: số 76/2/12 Phùng Tá Chu, phường A, Thành phố H; địa chỉ liên lạc: số 79/30/56A Âu Cơ, Phường B, Thành phố H;
Bị đơn: Ông Đái Thanh S, sinh năm 1982; Căn cước công dân số: do Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 19/02/2022; địa chỉ: số 76/2/12 Phùng Tá Chu, phường A, Thành phố H.
(Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, bà Trần Thị Ánh H3, trình bày: Bà và ông Đái Thanh S chung sống năm 2010, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 181, quyển 01/2010 ngày 24/11/2010 của UBND phường A, quận B1, Thành phố H (nay là UBND phường A, Thành phố H) cấp. Bà cho rằng trong quá trình chung sống thì có nhiều bất đồng quan điểm, không hòa hợp nên mâu thuẩn phát sinh trầm trọng không hàn gắn được, không thể tiếp tục chung sống với nhau, bà xác định không còn tình cảm với ông S nên bà yêu cầu được ly hôn với ông S. Trong quá trình chung sống, có 02 con chung là Đái Trí V, sinh ngày 16/11/2011 và Đái Hiểu T1, sinh ngày 15/11/2016, tại đơn khởi kiện, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đái Hiểu T1 và giao cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đái Trí V. Nay, để tiện cho việc học hành của các con, bà đồng ý giao cho ông S được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung Đái Trí V và Đái Hiểu T1. Bà không cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, bà không yêu cầu giải quyết; về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác không có nên bà không yêu cầu giải quyết.
Ông Đái Thanh S có bản tự khai ngày 04/8/2025, trình bày: Ông và bà Trần Thị Ánh H3 kết hôn vào năm 2010 tại UBND phường A, quận B1 ngày 24/11/2010. Trong quá trình chung sống, do hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng có xích mích chứ không có mâu thuẫn gì nhiều nên ông không đồng ý ly hôn với bà H3. Ông với bà H3 có 02 con chung là Đái Trí V, sinh ngày 16/11/2011 và Đái Hiểu T1, sinh ngày 15/11/2016, các con muốn sống với ai cũng được; về tài sản chung, ông không yêu cầu giải quyết; về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác không có nên ông không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa:
* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ánh H3 có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Bị đơn: Ông Đái Thanh S có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân KV 9 - Thành phố H phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật như thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; Tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; Thông báo và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, tuân thủ đúng pháp luật; Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H3 được ly hôn với ông S; về con chung, giao cho ông S được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đái Trí V, sinh ngày 16/11/2011 và Đái Hiểu T1, sinh ngày 15/11/2016; về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác, do các đương sự không có yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà H3 có đơn yêu cầu ly hôn với ông S, bị đơn có địa chỉ tại số 76/2/12 Phùng Tá Chu, phường A, Thành phố H. Đây là vụ án dân sự về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân KV 9 - Thành phố H.
[1.1] Bà Trần Thị Ánh H3 và ông Đái Thanh S cùng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung: Bà H3 và ông S tự nguyện chung sống năm 2010, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn số 181, quyển 01/2010 ngày 24/11/2010 của UBND phường A A, quận B1, Thành phố H (nay là UBND phường A, Thành phố H) cấp, đây là hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do mâu thuẫn nên bà H3 có đơn yêu cầu ly hôn với ông S.
[2.1] Qua yêu cầu của bà H3 và ý kiến tại bản tự khai ngày 04/8/2025 của ông S, Hội đồng xét xử xét thấy, hạnh phúc gia đình phải được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu của cả vợ chồng, đôi bên phải thật sự tin yêu, tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau nhưng hiện tại thì bà H3 đã không còn tha thiết chung sống với ông S nữa.
Ngày 27/5/2025, Tòa án nhân dân KV 9 - Thành phố H tham khảo ý kiến về tình trạng hôn nhân của vợ cH3 bà H3 và ông S tại UBND phường A A, quận B1, Thành phố H (nay là UBND phường A, Thành phố H), có kết quả trả lời: “UBND phường A chưa tiếp nhận các thông tin liên quan đến ông Đái Thanh S và bà Trần Thị Ánh H3”. Qua xác minh tại Công an phường A, quận B1, Thành phố H (nay là UBND phường A, Thành phố H) được biết: “Ông Đái Thanh S, sinh năm 1982 có đăng ký thường trú có cư trú tại địa chỉ 76/2/12 Phùng Tá Chu, khu phố 1, phường A, B1, TP H”.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần hòa giải, tác động để hàn gắn, đoàn tụ nhưng bà H3 vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông S, còn ông S, mặc dù đang thực tế cư trú tại địa chỉ số 76/2/12 Phùng Tá Chu, phường A, Thành phố H (địa chỉ cũ: số 76/2/12 Phùng Tá Chu, phường A, quận B1, Thành phố H) và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết tranh chấp ly hôn với bà H3 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Ngày 04/8/2025, ông S có bản tự khai xác định ông và bà H3 kết hôn vào năm 2010 tại UBND phường A, quận B1 ngày 24/11/2010 và trình bày: trong quá trình chung sống, do hoàn cảnh khó khăn nên vợ chồng có xích mích chứ không có mâu thuẫn gì nhiều nên ông không đồng ý ly hôn với bà H3 nhưng qua nhiều lần hòa giải để đôi bên đoàn tụ thì ông S vắng mặt không có lý do và không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng còn bà H3 xác định không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống nên vẫn kiên quyết ly hôn với ông S, như vậy thể hiện cả bà H3 và ông S không còn quan tâm chăm sóc nhau và không mong muốn được giải quyết mâu thuẫn để tiếp tục chung sống với nhau. Từ những chứng cứ trên, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng của bà H3 và ông S đã thật sự mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc tiếp tục chung sống là không còn ý nghĩa mà có thể tác động xấu đến sự phát triển của các con chung. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà H3 đối với ông S là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Việc nuôi dưỡng, chăm sóc con là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ nhưng phải dựa trên cơ sở đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Bà H3 và ông S có 02 con chung là Đái Trí V, sinh ngày 16/11/2011 và Đái Hiểu T1, sinh ngày 15/11/2016. Bà H3 có ý kiến là để tiện cho việc học hành của các con, bà đồng ý giao cho ông S được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Đái Trí V cùng với Đái Hiểu T1 và bà không cấp dưỡng nuôi con. Ông Đái Thanh S có ý kiến các con muốn sống với ai cũng được. Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của con chung, cả trẻ V và trẻ T1 đều có nguyện vọng được sống với ba là ông Đái Thanh S để tiện việc học hành của các trẻ. Do đó, yêu cầu giao cho ông S được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Đái Trí V và Đái Hiểu T1 là phù hợp với quy định của pháp luật và cũng đúng với nguyện vọng của các trẻ, nên chấp nhận.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, cả Trần Thị Ánh H3 và ông Đái Thanh S không có yêu cầu nên tòa không xét.
[2.3] Về tài sản chung, bà H3 và ông S cùng xác định không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[2.4] Về nợ chung và các nghĩa vụ án sự khác, bà H3 và ông S cùng khai nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân KV 9 - Thành phố H phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H3 được ly hôn với ông S; về con chung, giao cho ông S được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đái Trí V, sinh ngày 16/11/2011 và Đái Hiểu T1, sinh ngày 15/11/2016. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, cả Trần Thị Ánh H3 và ông Đái Thanh S không có yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xét; về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác, do các đương sự không có yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân KV 9 - Thành phố H tại phiên tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu ly hôn được chấp nhận nên bà H3 phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; Điều 220; Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025;
Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016 của UBTVQH.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ánh H3.
1.1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Trần Thị Ánh H3 được ly hôn với ông Đái Thanh S.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 181, quyển 01/2010 ngày 24/11/2010 của UBND phường A, quận B1, Thành phố H (nay là phường A, Thành phố H) cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Giao cho ông Đái Thanh S được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đái Trí V, sinh ngày 16/11/2011 và Đái Hiểu T1, sinh ngày 15/11/2016.
Bà Trần Thị Ánh H3 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Ánh H3 và ông Đái Thanh S không yêu cầu giải quyết nên không xét.
1.4. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Trần Thị Ánh H3 và ông Đái Thanh S cùng xác nhận không có nên không xét.
2. Về án phí: Bà Trần Thị Ánh H3 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0077068 ngày 16/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B1, Thành phố H (nay là Phòng Thi hành án dân sự KV 9, Thành phố H. Bà Trần Thị Ánh H3 đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Đã giải thích quy định về quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự).
| Nơi nhận: - TAND TP.H; - VKSND KV9-TP.H; - THADS TP.H; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ; VP (N). | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thành T |