- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thao P và Thao S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 250 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 408/2021/HS-PT Ngày: 30-9- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Tấn Trường Các Thẩm phán:
Ông Trương Minh Tuấn
Ông Mai Xuân Thành
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa: Ông
Đỗ Xuân Ân - Kiểm sát viên.
Vào ngày 30 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum,
Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 409/2021/TLPT-HS ngày 02 tháng 8 năm 2021 đối với các bị cáo: Thao P và Thao S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2021/HS-ST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2045/2021/QĐXXPT-HS ngày 13/9/2021.
Bị cáo kháng cáo:
1/ Thao P (Tên gọi khác: không); sinh năm 1978 tại tỉnh Kon Tum; nơi
đăng ký HKTT: tỉnh Kon Tum; giấy chứng minh nhân dân số 233278304 cấp ngày 11/11/2014; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không; dân tộc: Brâu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thao V và bà Nàng P (đều đã chết); vợ: Y K, sinh năm 1970; con: 02 con, tên Nàng D sinh năm 1996 và Thao H sinh năm 1997; ngoài ra, bị cáo Thao P còn có 01 con riêng của vợ tên Thao Đ, sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Kon Tum. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Thao S (Tên gọi khác: không); sinh ngày 01/01/1982 tại tỉnh Attapeu,
Lào; nơi đăng ký HKTT: tỉnh Kon Tum; giấy chứng minh nhân dân số 233359984 cấp ngày 03/6/2019; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn:
1
Không; dân tộc: Brâu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam (theo Quyết định về việc cho nhập quốc tịch Việt Nam số 561/QĐ-CTN ngày 03/4/2019 của Chủ tịch nước); con ông Thao O và bà Nàng V; vợ: Y D, sinh năm 1989; con: 01 con, tên Y Ly M sinh năm 2010; ngoài ra, bị cáo Thao S còn có 01 con riêng của vợ tên Nàng Ti N sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Kon Tum. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho các bị cáo Thao P và Thao S: Ông Hoàng Minh T
- Văn phòng Luật sư M thuộc Đoàn luật sư tỉnh Kon Tum. Địa chỉ: tỉnh Kon Tum. (Có mặt).
- Người phiên dịch cho bị cáo Thao P và Thao S: Ông A L, sinh năm
1967. Trú tại: tỉnh Kon Tum. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/3/2020, Thao S đến huyện P, tỉnh Attapư, Lào thăm người thân
thì gặp Thao C (chưa rõ nhản thân lai lịch; trú tại tỉnh Attapư, Lào). Thao C nói ở Việt Nam có ai mua ma túy không thì giới thiệu cho C. Thao S nói khi nào có thì sẽ giới thiệu cho. Sau đó, Thao S về Việt Nam.
Ngày 18/3/2020, Thao P đang ngồi uống cà phê tại quán cà phê C thuộc
xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum thì gặp một người đàn ông tên P (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến nói chuyện và hỏi Thao P có biết ai bên Lào bán ma túy không, P đưa tiền đi qua Lào mua ma túy, P sẽ trả tiền công. Thao P đồng ý. Khoảng 07 giờ ngày 19/3/2020, Thao P gọi điện cho Thao S đến nhà và nói về việc P đề nghị đi qua Lào mua ma túy. Nghe vậy Thao S nói có biết người bên Lào bán ma túy và đồng ý đi cùng Thao P qua Lào mua ma túy cho P. Khoảng 08 giờ ngày 19/3/2020, P gọi điện hỏi Thao P đã tìm được người bán ma túy chưa. Thao P trả lời có rồi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, P đến nhà và đưa cho Thao P 75.000.000 đồng; P thỏa thuận với Thao P tiền công đi mua 10.000.000 đồng/1kg ma túy và 75.000.000 đồng mua được bao nhiêu kg thì mua hết và phải là ma túy loại 1. Sau đó, Thao P gọi điện cho Thao S nói đã nhận 75.000.000 đồng của P. Sáng ngày 20/3/2020, Thao S gọi điện cho Thao C để hỏi mua 75.000.000 đồng tiền ma túy. Thao C trả lời là mua được 03 kg và hẹn sáng hôm sau gặp nhau tại Lào.
Khoảng 07 giờ ngày 21/3/2020, Thao P và Thao S mỗi người điều khiển
01 xe mô tô đi theo đường tiểu ngạch sang Lào. Trên đường đi, Thao S hỏi tiền công như thế nào. Thao P nói P trả tiền công 10.000.000 đồng/1kg ma túy. Thao P và Thao S thống nhất chia đôi số tiền công. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Thao P và Thao S gặp Thao C và Thao T (chưa rõ nhân thân lai lịch; trú tại tỉnh Attapư, Lào) tại một địa điểm ở trong rừng. Tại đây, Thao P đưa cho Thao C
2
75.000.000 đồng. Sau đó, Thao P và Thao S đi về Việt Nam.
Khoảng 19 giờ ngày 22/3/2020, Thao C gọi điện cho Thao S nói đã có ma
túy rồi. Thao S hẹn hôm sau qua lấy. Sau đó, Thao S gọi điện thông báo cho Thao P biết và hẹn hôm sau đi lấy ma túy. Khoảng 07 giờ ngày 23/3/2020, Thao P và Thao S đi sang Lào đến địa điểm hẹn hôm trước gặp Thao C và Thao T. Thao C đưa gói ma túy cho Thao S và nói 03 kg ma túy. Thao S đưa gói ma túy cho Thao P giữ và mang về Việt Nam. Khi về đến nhà, Thao P giấu gói ma túy ở vườn nhà mình, sau đó lấy một ít ma túy đưa cho P kiểm tra. Sau khi kiểm tra xong, P thông báo không phải ma túy loại 1 nên yêu cầu mang đi đổi lại và khoảng 22 giờ ngày 25/3/2020, P đến nhà Thao P đưa thêm 160.000.000 đồng nữa để mua thêm ma túy loại 1.
Sáng ngày 26/3/2020, Thao P và Thao S đi sang Lào để đổi và mua thêm
ma túy. Lúc 10 giờ 10 phút cùng ngày, khi đến đường tuần tra biên giới thuộc địa bàn thôn I, xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum thì bị lực lượng Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế Bờ Y phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Kon Tum và Đoàn đặc nhiệm Miền Trung - Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của Thao P một túi xác rắn màu trắng bên trong có: 03 túi ni lông không màu có chứa chất rắn màu trắng; 01 khấu súng tự chế; 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có chất bột màu đen; 01 lọ nhựa màu vàng bên trong có 61 viên kim loại hình tròn, màu bạc; 01 lọ nhựa màu vàng bên trong có 39 mảnh giấy hình vuông một mặt màu trắng, một mặt màu đỏ có chất rắn hình tròn ở giữa và 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng), thu giữ của Thao S 01 con dao và 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 319 ngày 30/03/2020 của Phân viện KTHS
tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “Chất tinh thể màu trắng dạng tinh thể trong 03 (Ba) túi ni lông không màu gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng mẫu là 2.933,80 gam
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2021/HS-ST ngày 25/6/2021 của
Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 4 điều 251, Điều 40, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Các bị cáo Thao P, Thao S phạm tội "Mua bán trái phép chất
ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Thao P tử hình.
Bị cáo Thao S tử hình.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Thao P, Thao S để đảm bảo công tác thi hành
án.
3
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên quyết định về phần xử lý vật chứng,
án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/7/2021, các bị cáo Thao P, Thao S làm đơn kháng cáo với nội
dung: Mức án tử hình là đúng người, đúng tội, nhưng xin được giảm nhẹ hình phạt, tha tội chết cho các bị cáo, với các lý do: Các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn; bản thân không có học nên trình độ nhận thức về pháp luật hiểu biết còn hạn chế; có nhân thân lai lịch tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ; hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ không có việc làm ổn định; con còn nhỏ dại ăn học; vì cuộc sống mưu sinh muốn có tiền trang trải gia đình nên mới phạm tội; nay rất khao khát được sống để đoàn tụ với gia đình
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt
như trong đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa
đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên hình phạt bản án sơ thẩm; vì tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới.
Luật sư Hoàng Minh T - Người bào chữa cho các bị cáo tranh luận cho
rằng trong quá trình điều tra các bị cáo ngoài việc thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình như các bị cáo trình bày. Về bản chất vụ án là do các bị cáo hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên bị kẻ xấu lợi dụng vận chuyển trả tiền công, chứ không phải là kẻ chủ mưu cầm đầu; do vậy đề nghị HĐXX giảm hình phạt cho các bị cáo từ tử hình xuống chung thân cũng đủ sức răn đe giáo dục.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Thao P, Thao S thừa nhận toàn bộ
hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 23 và 26/3/2020, Thao P và Thao S được một người có tên P (hiện đang xác minh điều tra) nhờ qua Lào mua ma túy với tiền công 10.000.000đ/kg; thông qua người Lào là Thao C và Thao T (hiện đang ủy thác tư pháp điều tra), P và S đã mua được 03 kg ma túy. Như vậy có thể khẳng định: Vì động cơ vụ lợi (được trả tiền công cao) mà các bị cáo bất chấp pháp luật, coi thường tính mạng của mình, nên đã phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Vào lúc 10h00 ngày 26/3/2020, P và S đang mang ma túy qua lại Lào để đổi thì bị bắt giữ tại tỉnh Kon Tum. Qua kết quả
4
giám định có tổng khối lượng là 2.933,80gam ma túy tổng hợp (methamphetamin).
Với hành vi và hậu quả như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết các bị
cáo Thao P và Thao S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự “phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” ...b) Heroin, Cocaine, methamphetamine...có khối lượng 100 gam trở lên”. Các bị cáo phạm tội có trọng lượng ma túy gấp hơn 29 lần. Mặc dù các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng do số lượng ma túy các bị cáo vận chuyển đặc biệt lớn, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc giữa các tình tiết giảm nhẹ và trọng lượng ma túy mà các bị cáo phạm tội, xử phạt tử hình cả 02 bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo; thấy rằng: Quá trình tranh
tụng tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo không cung cấp được các tình tiết nào mới để làm thay đổi bản chất vụ án; các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo nêu ra đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng đầy đủ. Người bào chữa cho các bị cáo đề nghị chuyển loại hình phạt từ tử hình xuống chung thân là do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là không phù hợp với pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận. Vì vậy, HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ nguyên bản án sơ thẩm xử phạt tử hình cả hai bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kháng cáo của các bị cáo về giảm nhẹ hình phạt không được chấp
nhận; nên các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo
Thao P và Thao S; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2021/HS-ST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum về phần hình phạt.
Tuyên bố: Các bị cáo Thao P và Thao S phạm tội “Mua bán trái phép
chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 329; điểm d khoản 1 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Thao P tử hình.
Xử phạt bị cáo Thao S tử hình.
5
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Thao P và Thao S để bảo đảm thi hành án.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2021) bị cáo
Thao P và Thao S có quyền gửi đơn lên Chủ tịch nước- Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ân giảm án Tử hình.
2. Án phí phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Thao P và Thao S, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (30/9/2021).
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Kon Tum; - Phòng HSNV - Công an tỉnh Kon Tum; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Kon Tum; - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - Cục THADS Kon Tum; - Trại tạm giam CA tỉnh Kon Tum; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, LT. 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Tấn Trường |