- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo An Quốc D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo An Quốc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 406/2023/HS-ST Ngày 28/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung.
2. Bà Trần Thị Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại Hội trường B trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 411/2023/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 552/2023/QĐXXST-HS ngày 18/12/2023 đối với bị cáo.
An Quốc D, sinh năm 1998 ta ̣i tinh Bà Rịa Vũng Tàu; thường trú: khủ phố L, phường X, thị xã M, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; giớ i tinh: Nam; dân tô ̣́
c: Kinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; tôn giáo: Không; con ông An Quốc H, sinh năm 1973 và con bà Lê Thị P, sinh năm 1974 ; tiền sự, tiền án: Không có.
Bị cáo bi ̣ ta ̣m giữ, bắt ta ̣m giam ngày 08/8/2023, có mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Hữu S, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa, nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo An Quốc D sử dụng ma tuý từ đầu năm 2022, khoảng 07 giờ 00 phút ngày 08/8/2023, D bắt xe Grap từ nhà thuê ở trọ đến khu vực cầu vượt P thuộc thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người đàn ông (không rõ nhân thân) hỏi mua 2.000.000 đồng ma tuý, sau khoảng 10 phút người này quay lại đưa cho D một túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, D bắt xe về thành phố A tìm nơi sử dụng ma tuý. Vào lúc 09 giờ 40 phút cùng ngày D đi bộ hướng đến nhà nghỉ M địa chỉ khu phố N, phường A, thành phố A, tỉnh Bình Dương bị lực lượng Công an phường Dĩ An kiểm tra hành chính và thu giữ từ D 01 hộp đựng mắt kính màu đen, bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng và 01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể màu nâu. D khai nhận là ma túy đá mua về sử dụng. Nên bị lập biên bản giữ người phạm tội quả tang.
Kết luận giám định số 482/KL-KTHS(MT) ngày 15/08/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng/trọng lượng M1=0,0064gam; M2=1,5434 gam (tổng khối lượng 1,5498 gam)
Đối với người đàn ông bán ma túy cho D không rõ nhân thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tách điều tra xử lý sau.
Cáo trạng số 409 /CT-VKS - DA ngày 1/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo An Quốc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (gọi tắt Bộ luật hình sự). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu ma tuý còn lại sau giám định; một nỏ thủy tinh; một hộp đựng mắt kính màu đen.
Bi ̣ cáo An Quốc D không tranh luâ ̣n, bào chữa cho hành vi pha ̣m tô ̣i của minh. Trườ
́ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào nghi ̣ án, bi ̣ cáo nói lờ i sau cùng: Bị cáo rất hối hận việc mình làm, bị cáo xin được giảm mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tu ̣ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đi ̣nh như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định bị cáo phạm tội: An Quốc D sử dụng ma túy, ngày 08/8/2023 D mua ma tuý và mang theo lượng ma tuý có trong nỏ thuỷ tinh có khối lượng 1,5498 gam loại Methamphetamine để sử du ̣ng thi bi ̣̀ bắt giữ. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323 Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Như vậy, hành vi trên của bị cáo D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 409/ CT – VKS ngày 01/11/2023 của Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bi ̣ cáo cũng như luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và ta ̣i phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nhâ ̣n tô ̣i, ăn năn hối cải. Tình tiết trên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về nhân thân: Bị cáo D có nhân thân tốt thể hiện việc không có tiền án, tiền sự.
[6] Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo D phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 5 năm tù, bị cáo thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m vớ i lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, hiện nay hành vi mua bán trái phép chất ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy diễn ra nhiều và phức tạp việc này ảnh hưởng rất lớn đến sự an toàn, an nguy của xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[7] Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ ma túy còn lại sau giám định, 01 nỏ thủy tinh, 01 hộp đựng mắt kính màu đen cần tịch thu tiêu huỷ
[8] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng, mứ c hinh pha ̣̀
t bi ̣ cáo phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.
[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo An Quốc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo An Quốc D 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị ta ̣m giữ, bắt ta ̣m giam ngày 08/8/2023.
2. Các biện pháp tư pháp.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong ghi số 482/PC09 (M2) bên trong chứa ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng 1,5061 gam; một bì thư được niêm phong ký hiệu số 482/PC 01(M1) bên trong chứa 01 nỏ thủy tinh, 01 hộp đựng mắt kính màu đen.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.
Bị cáo An Quốc D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP Dĩ An; - Công an TP Dĩ An; - Chi cục THA dân sự TP Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - VKS tỉnh BD; - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú; - Phòng PV 06 CA tỉnh BD; - Phòng PC 10 CA tỉnh BD; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |