vanban.org

Bản án 406/2019/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 22/07/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Minh T tử hình. Bị cáo bị bắt từ ngày 11/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Minh T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 406/2019/HS-PT
Ngày: 22 - 7 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Phan Đức Phương

Ông Vũ Ngọc Huynh

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 80/2019/TLPT - HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Đỗ Minh T; do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 425/2018/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị kháng nghị:

Đỗ Minh T, sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tại A, Đ, Phường C, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: H, Ấp C, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Đỗ Văn T, sinh năm 1966 và bà La Văn N, sinh năm 1963; Có vợ là: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1996 và 03 con: lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền sự: không;

Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 118/2012/HSST ngày 25/7/2012, chấp hành án tại trại giam Huy Khiêm - Bộ Công an và ra trại ngày 03/4/2014 (đã được xóa án tích)

Bị cáo bị bắt từ ngày 11/6/2018 (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Ngọc O là luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 00 phút, ngày 11/6/2018, tại trước nhà số A, đường B, Phường V, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh, đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy - Công an Quận 8 bắt quả tang Đỗ Minh T đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy để bán cho người khác. Vật chứng thu giữ của Đỗ Minh T ở baga xe máy là túi nylon màu hồng bên trong có một gói nylon chứa chât tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 99,9596 gam, là Methamphetamine; thu giữ trong túi quần của Đỗ Minh T một gói nylon bên trong chứa nhiều mảnh vụn của viên nén màu xanh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7983 gam, là MDMA và một gói nylon bên trong có 01 tờ mệnh giá 1.000 đồng chứa tinh thể màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0199 gam, là Ketamine; 02 ĐTDĐ; một xe máy biển số 52T8-5797 và 1.200.000 đồng.

Tiến hành khám xét nơi ở của Đỗ Minh T vào lúc 21 giờ 30 phút cùng ngày tại H, Ẩp C, xã H, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Điều tra đã thu giữ: trong tủ Tivi đặt trong phòng dưới sàn nhà trên lầu 1 gồm:

- 01 gói nylon chứa chất tinh thể không màu (không tìm thấy ma túy)

- 01 gói nylon chứa 25 viên nén hình tròn màu vàng nhạt khắc hình chiếc lá là ma túy ở thể rắn có khối lượng 7,9035 gam loại Ketamine;

- 01 hộp thiếc màu vàng bên ngoài ghi chữ Lipton bên trong có: 01 gói nylon chứa chất bột màu xanh (không tìm thấy ma túy), 01 gói mylon chứa 99 viên nén hình tròn màu xám khắc hình con cá sấu (không tìm thất ma túy), 01 gói nylon chứa 350 viên nén màu trắng đục khắc hình con cá sấu (không tìm thấy ma túy); 01 gói nylon chứa 167 viên con nhộng đầu trắng, đầu xanh lá chứa bột màu xanh (không tìm thấy ma túy)

- 01 gói nylon màu bạc chứa 280 viên nén hình tròn màu là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 69,2638 gam loại Methamphetamine, Ketamine.

Thu giữ trong tủ gỗ đặt giữa sàn nhà trong phòng trên lầu 1 gồm:

- 01 túi giấy sọc bên trong có 03 gói nylon chứa chất tinh thể không màu là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 697,98 gam loại Methamphetamine;

- 01 hộp nhựa bên trong có 04 gói nylon chứa chất tinh thể không mà là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 97,6179 gam loại Methamphetamine;

- 01 gói nylon chứa chất tinh-thể không màu là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 9,9902 gam loại Methamphetamine;

- 01 gói nylon chứa chất tinh thể không màu là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,3688 gam loại Ketamine;

- 01 túi nylon chứa 07 viên nén hình tròn màu xanh khắc chữ LV là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,3048 gam loại MDMA;

- 01 túi vải màu đen, bên trong có:

+ 01 gói nylon chứa chất tinh thể không màu là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 72,1708 gam loại Ketamine;

+ 01 túi nylon chứa 30 viên nén hình tròn màu xanh khắc chữ LV là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 9,8544 gam loại MDMA;

+ 01 túi nylon chứa 20 viên nén hình tròn màu xanh khắc chữ NFL là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 7,0884 gam loại MDMA;

+ 01 gói nylon chứa 114 viên nén hình giọt nước màu xanh khắc hình điện thoại là chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 39,4997 gam loại MDMA;

- 02 cân tiểu ly, 01 đồ xúc bằng nhựa màu đen, 01 vỏ chai nhựa cắt nhọn, 100 gói nylon rỗng.

Thu giữ dưới sàn nhà trong phòng lầu 1 một máy ép gói nylon.

Toàn bộ số ma túy thu giữ của Đỗ Minh T đã được giám định, kết quả thể hiện tại Bản kết luận giám định số 1028/KLGĐ-H ngày 20/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 425/2018/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

Căn cứ Điểm h Khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s Khoản l Điều 51, Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đỗ Minh T tù Chung thân. Bị cáo bị bắt từ ngày 11/6/2018.

Buộc Đỗ Minh T nộp số tiền phạt 10.000.000 đồng để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/11/2018 bị cáo Đỗ Minh T xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 28/11/2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định kháng nghị phúc thẩm số 62/QĐ-VKS-P1 kháng nghị một phần bản án sơ thẩm đề nghị tăng mức hình phạt từ chung thân lên tử hình đối với bị cáo Đỗ Minh T.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Đỗ Minh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa sơ thẩm đã nhận định và tuyên xử, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng mức án quá nặng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Luật sư không thống nhất về việc truy tố, xét xử của cấp sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người bán ma túy cho đối tượng tên Tr, theo thỏa thuận giữa Tr và T là mỗi lần bán được thì trả tiền công cho T tiền công từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và số ma túy hiện đang được T cất giữ chưa phát tán nên tác hại đối với xã hội là chưa có, bị cáo hiện đang có cha mẹ già yếu, 03 đứa con nhỏ phải nuôi. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, đồng thời xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn cũng đủ để răn đe và giáo dục bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đỗ Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quá trình điều tra, tuy bị cáo Đỗ Minh T thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nhưng không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào, đồng thời bị cáo T lại có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Cáo trạng truy tố bị cáo Đỗ Minh T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số ma túy là 1110,7317gam, loại Methamphetamine, Ketamine và MDMA là có căn cứ, đúng pháp luật.

Do vậy, bản án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Đỗ Minh T mức án tù chung thân, thấp hơn mức án Viện kiểm sát đề nghị đối với Đỗ Minh T (tử hình) là không phù hợp với tính chất, hành vi và mức độ phạm tội của Đỗ Minh T. Do đó, việc áp dụng mức hình phạt nêu trên chưa thể hiện tính nghiêm minh trong việc áp dụng pháp luật, làm giảm tác dụng đấu tranh phòng và chống tội phạm về ma túy nói chung và tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo Đỗ Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo hướng tăng nặng hình phạt từ chung thân lên tử hình đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 11/6/2018, tại trước số nhà 13 đường 643 Tạ Quang Bửu, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh vật chứng bắt quả tang và thu giữ của Đỗ Minh T tổng cộng là 59,5456 gam, loại MDMA; 974,8115 gam, loại Methamphetamine và 83,4630gam, loại Ketamine nên phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng trọng lượng ma túy thể rắn bắt quả tang và thu giữ của Đỗ Minh T là 1.117,8201 gam, loại MDMA, Methamphetamine và Ketamine thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên” mà khối lượng quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều này nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để xét xử bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức về hành vi phạm tội, nhưng do muốn hưởng lợi một cách dễ dàng đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có một tiền án được xóa án tích nên bị xem là có nhân thân xấu.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và xử bị cáo mức án tù chung thân theo tội danh và điều luật trên.

Tuy nhiên xét bản án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Đỗ Minh T mức án tù chung thân, là không phù hợp với tính chất, hành vi và mức độ phạm tội của Đỗ Minh T, việc áp dụng mức hình phạt nêu trên chưa thể hiện tính nghiêm minh trong việc áp dụng pháp luật, làm giảm tác dụng đấu tranh phòng và chống tội phạm về ma túy nói chung cũng như tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Với hành vi trên xét bị cáo không còn khả năng cải tạo giáo dục, cần loại bị cáo vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo tính răn đe và giáo dục.

Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo; không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Minh T phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm như sau:

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản l Điều 51, Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Minh T tử hình. Bị cáo bị bắt từ ngày 11/6/2018.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Án phí phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Minh T phải chịu 200.000 đồng.

Trong thời hạn 07 ngày để từ ngày tuyên án bị cáo được quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ân giảm án tử hình.

Các Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 425/2018/HSST ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ