vanban.org

Bản án 405/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kim N về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả cho bà Trương Thị Kim N 02 (Hai) chỉ vàng 18 kara.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kim N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kim N về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả cho bà Trương Thị Kim N 02 (Hai) chỉ vàng 18 kara.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 405/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19/7/2023
V/v ly hôn, đòi tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Minh Chánh.

2. Bà Nguyễn Thị Thu Sương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu, Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 180/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 327/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Kim N, sinh năm 1996, địa chỉ: Tổ 45, ấp Bình A, xã An H, huyện Châu T, tỉnh An Giang, có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1997, địa chỉ: Tổ 9, ấp Bình Y, xã Bình T, huyện Châu P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07 tháng 02 năm 2023, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn là bà Trương Thị Kim N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông H chung sống với nhau năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Bình Thuỷ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 185 ngày 26/12/2019. Thời gian đầu sống hạnh phúc, về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên cải vã, tính tình, cuộc sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cố hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Hiện bà và ông H đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà N yêu cầu ly hôn với ông H.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Trong thời gian chung sống, ông H có mượn của bà 02 chỉ vàng 18 kara. Bà N yêu cầu ông H trả cho bà 02 chỉ vàng 18 kara. Ngày 10/5/2013, bà N có đơn rút lại yêu cầu ông H trả cho bà 02 chỉ vàng 18 kara với lý do bà không có chứng cứ chứng minh.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông H đến trụ sở Tòa án để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về yêu cầu khởi kiện của bà N nhưng ông H vắng mặt không có lý do.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ đúng quy định pháp luật. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tố tụng tại phiên toà.

- Về việc chấp hành pháp luật: Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà. Tuy nhiên bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án là chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà N và ông H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà N yêu cầu ly hôn là có căn cứ.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

Từ cơ sở trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 51, 53, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Đình chỉ xét xử yêu cầu của bà N về việc yêu cầu ông H trả cho bà 02 chỉ vàng 18 kara.

Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, được hoàn trả lại án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, người tham gia tố tụng và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn khởi kiện tại Tòa án và đã nộp tạm ứng án phí nên Tòa án thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà N và ông H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Bình Thuỷ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 185 ngày 26/12/2019 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của bà N thì mâu thuẫn phát sinh trong quá trình chung sống là do thường xuyên cải vã, tính tình, cuộc sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cố hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Hiện bà và ông H đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung nên bà N yêu cầu ly hôn với ông H.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông H đến trụ sở Tòa án để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về yêu cầu khởi kiện của bà N nhưng ông H vắng mặt không có lý do.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà N và ông H. Tại biên bản xác minh do Tòa án lập ngày 18/4/2023, đại diện ban ấp Bình Yên, xã Bình Thuỷ, huyện Châu Phú cho biết trong quá trình chung sống bà N và ông H có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không rõ do không nhận được thông tin, chỉ biết hiện tại bà N và ông H đã sống ly thân.

Từ cơ sở trên xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H là mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà N yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung:

Bà N và ông H không có con chung, tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bà N tự nguyện rút lại yêu cầu ông H trả cho bà 02 chỉ vàng 18 kara, xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện này của bà N.

Về án phí:

Bà N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, hoàn trả bà N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng.

Ông H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kim N về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn H trả cho bà Trương Thị Kim N 02 (Hai) chỉ vàng 18 kara.

2. Về hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Kim N.

Bà Trương Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 185 ngày 26/12/2019 của Uỷ ban nhân dân xã Bình Thuỷ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang cấp cho bà Trương Thị Kim N và ông Nguyễn Văn H không còn giá trị pháp lý.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trương Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005407 ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú. Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Trương Thị Kim N tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005408 ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ