- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc T phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 405/2021/HS-ST Ngày 27-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Chánh
2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 516/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 162/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021, đối với:
- Bị cáo: Đỗ Ngọc T, sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Xã X, huy n H, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghi p: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: T chúa; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Đỗ Ngọc S và bà Trần Thị Th; gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 12/11/2014, bị Tòa án nhân dân huy n Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm t về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 194 Bộ lu t Hình sự 1999, sửa đ i b sung năm 2009. Ngày 12/12/2020, T chấp hành xong hình phạt t .
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 31/5/2021, chuyển tạm giam theo nh số 764 ngày 08/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hi n bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi thuộc Công an thành phố Biên Hòa
(Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Ngọc T là người sử dụng trái phép chất ma túy. hoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/5/2021, T đến đường C thuộc qu n B, thành phố Hồ Chí Minh mua của người đàn ông tên V (Chưa r lai lịch) 01 gói ma túy t ng hợp (hàng đá) với giá 3.000.000đ (Ba tri u đồng) để sử dụng. Sau đó, T cất giấu gói ma túy trên trong túi áo khoác bên phải đang m c và điều khiển xe mô tô biển số 51 1-7140 đi tìm nơi sử dụng thì g p ê Nh t L (sinh năm 1988, ngụ tại ấp S, xã C, huy n L, tỉnh Đồng Nai). L bị mất xe mô tô nên nhờ T ch đi tìm xe mô tô, T đồng ý. không biết vi c T tàng tr trái phép chất ma túy.
úc 16 giờ 30 phút ngày 31/5/2021, T điều khiển xe mô tô biển số 51 1-7140 ch ong t thành phố Hồ Chí Minh về đến trước nhà nghỉ “H” thuộc T 3, Khu phố 1, phường L, thành phố B thì T bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đồng Nai kiểm tra, phát hi n bắt quả tang, thu gi gói ma túy trên. Đến ngày 02/6/2021, vụ vi c được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng gồm:
- 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng thu gi trong túi áo khoác bên phải Đỗ Ngọc T đang m c được niêm phong có ch ký của T và hình dấu tròn màu đ của Công an phường ong Bình, thành phố Biên Hòa.
- 01 xe mô tô biển số 51 1-7140, số máy HC12E2201222, số khung RLHHC12388Y450631.
- 01 đi n thoại di động nhãn hi u Iphone 6S Plus, số Imei 353289075566721; 01 sim thuê bao: xxxxxxxxxx của Đỗ Ngọc T không liên quan đến vi c phạm tội.
Tại Bản kết lu n giám định số 1118 ngày 04/6/2020 của Phòng k thu t Hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết lu n: M u tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 10,1302gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 526/CT-VKSBH ngày 30/9/2021 của Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Đỗ Ngọc T về tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo Điểm g, o, Khoản 2, Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại di n Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai gi nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
- Áp dụng Điểm g, o, Khoản 2, Điều 249 và Điểm s, Khoản 1, Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017); xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc T t 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Xử lý v t chứng theo quy định của pháp lu t.
Ngày 23/10/2021, bị cáo Đỗ Ngọc T có đơn xin xét xử vắng m t, đơn của bị cáo đã được Nhà tạm gi Công an thành phố Biên Hòa xác nh n.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của nh ng người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp lu t tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp l và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị cáo Đỗ Ngọc T đã được Tòa án tống đạt hợp l Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngày 23/10/2021, bị cáo Đỗ Ngọc T có đơn xin xét xử vắng m t, đơn của bị cáo đã được Nhà tạm gi Công an thành phố Biên Hòa xác nh n. Căn cứ vào Điểm c, Khoản 2, Điều 290 Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiến hành xét xử vắng m t bị cáo.
Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Theo như các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo Đỗ Ngọc T th a nh n hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; lời khai nh n tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết lu n giám định, biên bản h i cung bị can, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ s kết lu n:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 31/5/2021, tại trước nhà nghỉ “H” thuộc Phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Đỗ Ngọc T có hành vi tàng tr trái phép 10,1302 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đồng Nai kiểm tra, phát hi n, bắt quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra, xử lý theo quy định.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã trư ng thành, có đủ khả năng để nh n thức tác hại của ma túy nhưng để th a mãn nhu cầu riêng của bản thân, bị cáo v n tàng tr trái phép chất ma túy để sử dụng là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Bản thân bị cáo đã có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị Tòa án nhân dân huy n Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm t giam, mới chấp hành án phạt t xong ngày 12/12/2020, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sâu sắc cho bản thân mà lại dấn thân vào con đường phạm pháp, chứng t thái độ coi thường pháp lu t của bị cáo. ần phạm tội này của bị cáo bị coi là tái phạm nguy hiểm quy định tại Điểm a, hoản 2, Điều 53; Điểm g, hoản 2, Điều 249 Bộ lu t hình sự.
- Về tội danh: T căn cứ trên, xác định bị cáo Đỗ Ngọc T phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo Điểm g, o, Khoản 2, Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017).
Như v y, bản Cáo trạng số 526/CT-VKSBH ngày 30/9/2021 của Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết lu n của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Đỗ Ngọc T về tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp lu t.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017). Vì v y, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
T nh ng nh n định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, h u quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của vi c đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Đỗ Ngọc T để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp lu t và giáo dục, răn đe phòng ng a chung.
Về các vấn đề khác:
Đối với người tên Vũ (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Đỗ Ngọc T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp lu t.
Đối với ê Nh t Long, Long đi c ng với bị cáo T tuy nhiên Cơ quan điều tra đã làm vi c và xác định r vi c Long không biết T tàng tr trái phép chất ma túy nên không xử lý là phù hợp với quy định của pháp lu t.
Về vật chứng:
- V t chứng được kết lu n là ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng tr nên cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng 10,0520 gam ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Biên Hòa thu gi sau giám định.
- Trả lại 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u Iphone 6S Plus, số Imei 353289075566721; 01 sim thuê bao: xxxxxxxxxx cho Đỗ Ngọc T do không có liên quan đến hành vi phạm tội.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 51 1-7140, số máy HC12E2201222, số khung RLHHC12388Y450631, bị cáo khai mượn của một nam thanh niên (Chưa r lai lịch). Qua xác minh tại Phòng giao thông Công an tỉnh Đồng Nai, xác định biển số xe 51 1-7140, số máy HC12E2201222, số khung R HHC12388 450631 không tìm thấy d li u tra cứu trong h thống. Do chưa xác định được nguồn gốc xe mô tô trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tách ra tiếp tục điều tra, làm r , xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp lu t.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ lu t Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án;
Buộc bị cáo Đỗ Ngọc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp nên chấp nh n; về mức hình phạt, đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp một phần với nh n định của Hội đồng xét xử nên chấp nh n phần phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc T phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng Điểm g, o, Khoản 2, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc T 06 (sáu) năm 08 (tám) tháng tù; thời hạn t được tính t ngày 31 tháng 5 năm 2021.
2. Xử lý v t chứng: Áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 47 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017); Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng 10,0520 gam ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Biên Hòa thu gi sau giám định.
- Trả lại 01 (một) đi n thoại di động nhãn hi u Iphone 6S Plus, số Imei 353289075566721; 01 sim thuê bao: xxxxxxxxxx cho Đỗ Ngọc T do không có liên quan đến hành vi phạm tội.
Các v t chứng này hi n đang lưu gi tại Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo Biên bản giao nh n v t chứng, tài sản ngày 05 tháng 10 năm 2021.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ lu t Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ lu t Tố tụng Hình sự;
Bị cáo Đỗ Ngọc T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể t ngày được tống đạt hợp l bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa; - Vi n Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TP Biên Hòa; - Cơ quan THAHS – Công an TP Biên Hòa; - Phòng HSNV - Công an TP Biên Hòa; - Chi Cục THADS TP Biên Hòa; - S Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - ưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng và Thẩm phán. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Duyên |