- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Nguyễn Thị Thu H; BĐ: Trần Trọng C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thu H đối với bị đơn ông Trần Trọng C. Bà H được ly hôn với ông C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 404/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 9 - 2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thiều Thị Phi Loan.
2. Ông Trần Văn Chánh;
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1828/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 349/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 450/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: B, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Trần Trọng C, sinh năm: 1979.
Địa chỉ: B, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(bà H, ông C vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Trọng C đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình cả hai không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã, không tôn trọng nhau. Mặc dù cả hai vợ chồng đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà và ông C có 02 con chung là cháu Trần Trọng Thiên H1, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2008; cháu Trần Ngọc Thảo C1, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2014. Theo đơn khởi kiện ban đầu, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các con chung; yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi 02 con chung 10.000.000 đồng/tháng (mỗi con chung 5.000.000 đồng/tháng). Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bà đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, tạm thời không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Trần Trọng C đã được Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa triệu tập hợp lệ để làm việc; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật và việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định; Quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo đảm theo quy định của pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông C; Về con chung: Giao 02 con chung là các cháu Trần Trọng Thiên H1, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2008; cháu Trần Ngọc Thảo C1, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết sau nếu các đương sự có yêu cầu; Về án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về tư cách tố tụng, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Thu H có đơn yêu cầu ly hôn với ông Trần Trọng C, địa chỉ: B, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và yêu cầu Tòa án xác định người trực tiếp nuôi con chung khi ly hôn. Căn cứ theo quy định tại các điều 28, 35, 39 và 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, bà H được xác định là nguyên đơn, ông C được xác định là bị đơn trong vụ án; quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trần Trọng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông C theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện: Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 6 năm 2024, bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con chung; yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi 02 con chung 10.000.000 đồng/tháng (mỗi con chung 5.000.000 đồng/tháng). Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bà đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, tạm thời không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà H là tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông C đã đăng ký kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Long Bình cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 457 ngày 16 tháng 10 năm 2007 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các điều 9, 11 và 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nay là các điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Theo lời khai của bà H trong quá trình giải quyết vụ án: Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình cả hai không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã, không tôn trọng nhau. Mặc dù cả hai vợ chồng đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Bà xác định tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.
Xét thấy, tại biên bản xác minh ngày 15 tháng 7 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác định không biết về mâu thuẫn giữa vợ chồng bà H, ông C do các đương sự không trình báo địa phương giải quyết. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định cho ông C nhưng ông C không đến làm việc, tham gia tố tụng cũng như tham gia phiên tòa. Việc này thể hiện ông C đã không còn quan tâm và không muốn hàn gắn, hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ, mâu thuẫn giữa bà H và ông C là có thật, trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông C.
Về con chung: Bà H xác định bà và ông C có 02 con chung là các cháu Trần Trọng Thiên H1, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2008 và cháu Trần Ngọc Thảo C1, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2014. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con chung; tạm thời bà không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung. Ông C vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
Xét thấy, bà H có thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung, đồng thời cả 02 con chung đã trên 07 tuổi hiện đang sống cùng bà H và cũng có nguyện vọng muốn sống cùng với bà H. Vì vậy, để tránh ảnh hưởng, xáo trộn đến cuộc sống, tâm sinh lý, sinh hoạt hằng ngày và học tập của các con chung nên Hội đồng xét xử giao cả 02 con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định bà và ông C tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung; ông C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có lời khai nên không đủ cơ sở xác định đối với phần tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này và tách ra giải quyết bằng vụ việc khác khi các đương sự có yêu cầu đối với phần tài sản chung, nợ chung.
Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên cần chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 68, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các điều 9, 11, 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật số: 97/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thu H đối với bị đơn ông Trần Trọng C. Bà H được ly hôn với ông C.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là các cháu Trần Trọng Thiên H1, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2008 và cháu Trần Ngọc Thảo C1, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2014 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; tạm thời ông Trần Trọng C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0004498 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa. Bà H đã nộp xong.
5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và các điều 7, 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Biên Hòa; - Chi cục THADS TP. Biên Hòa; - UBND P. Long Bình; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Bảo |