vanban.org

Bản án 403/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 19/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!VINH!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TỈNH!NGHỆ!AN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc!
!!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 403/2018/HS-ST
Ngày: 19/9/2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

!!!!!!!!!TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!VINH!-!NGHỆ!AN!!

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thanh Hùng và ông Nguyễn Trung Đoàn

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân TP Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: bà

Nguyễn Thị Bích Yến - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 9 năm 2018; tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh,

tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 407/2018/HSST ngày 05/9/2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 604/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn!Văn!A; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1982 tại xã T,

huyện L, Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: xóm l, xã T, huyện L, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D (sinh năm 1935) và bà Lê Thị X (đã chết); Vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1984; Có 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 30/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc xử phạt 07 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2018 đến nay. Có mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 05/6/2018, Nguyễn Văn Agọi điện thoại cho một người đàn ông tên S ( A không rõ tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 500.000 đồng ma túy để sử dụng. Qua trao đổi, người này đồng ý bán và hẹn A đến khu vực đường Phan Vân thuộc phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ A để giao nhận. Sau đó A gọi xe Taxi đi đến chỗ hẹn gặp S. Khi gặp, S đưa cho n 01 túi ni lông màu đen bên trong có: 02 bơm kim tiêm; 01 lọ nước cất bằng thủy tinh và 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng, A đưa cho S 500.000 đồng. Sau khi mua đuộc ma túy, A cầm ở tay phải, rồi đi về phòng trọ An thuê ở khối 13, phường T, thành phố V. Khi đi đến trước số nhà 108 đường T, thành phố V thuộc khối 5, phường N, thành phố V thì bị tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ ở Nguyễn Văn A gồm: 01 túi ni lông màu đen bên trong có: 02 bơm kim tiêm bằng nhựa; 01 lọ nước cất bằng thủy tinh và 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Philips màu đen có số sim 01689803386. Tổ công tác đưa Nguyễn Văn Acùng tang vật về trụ sở, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 744/KL-PC54 (MT) ngày 10/6/2018 của Phòng

Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất cục bôt màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn A gửi tới giám định là ma túy (Hêrôin) có khối lượng là 0,110 gam”. Vật chứng hiện được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Vinh, Nguyễn Văn A đã

khai nhận hành vi phạm tội của mình

Tại Bản cáo trạng số 435/VKS-HS ngày 05/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân

thành phố Vinh đã truy tố Nguyễn Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền

công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt 07 tháng tù của bản án số 51/2018/HSST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 19 đến 22 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; và đề nghị áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng

của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công

an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm

tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 20 giờ ngày 05/6/2018, trước số nhà 108 đường T, thành phố V thuộc khối 5, phường N, thành phố V, Nguyễn Văn A đang cất giấu trái phép 0,110 gam ma túy (Hêrôin) để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi mà Nguyễn Văn A thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết.

[2.2]. Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực

tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi đó gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị. Cần áp dụng điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt 07 tháng tù của bản án số 51/2018/HSST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính, người

phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Trong vụ án này, theo lời khai bị cáo người nam thanh niên đã bán ma túy

cho bị cáo và người đàn ông tên Sỹ, do bị cáo không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp xác minh, làm rõ xử lý sau.

[2.4]. Về xử lý vật chứng: Đối với 0,110 gam ma túy (Hêrôin) là vật thuộc

loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy; 02 bơm kim tiêm bằng nhựa; 01 lọ nước cất bằng thủy tinh là vật không có giá trị sử dụng nên nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Philips bên trong có số thuê bao 01689803386 là phương tiện phạm tội cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2.5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH!

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 56 Bộ luật

Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 tháng tù của bản án số 51/2018/HSST ngày 30/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 19 (mười chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2018.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình

sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín thu giữ vật chứng của Nguyễn Văn A; 02 bơm kim tiêm bằng nhựa; 01 lọ nước cất bằng thủy tinh. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Philips bên trong có số thuê bao 01689803386 (Vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Vinh theo Phiếu nhập kho số NK1094 tháng 9/2018)

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Nguyễn Văn A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ