vanban.org

Bản án 402/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Bá G phạm tội “Chứa mại dâm”

Xử phạt: Bị cáo Bùi Bá G 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù còn lại được tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Bá G - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Bá G phạm tội “Chứa mại dâm”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

NAM

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 402/2024/HS-ST

Ngày 27-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG

TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Đắc

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Q – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà ịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 387/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 446/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Bùi Bá G, sinh năm 1971, tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã T, huyện V, tỉnh Nam Định; nơi ở: D đường B, phường N, TP ., tỉnh Bà ịa Vũng Tàu; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông Bùi Bá Đ và bà Nguyễn Thị T; vợ: Phạm Hồng T1, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt từ ngày 15/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố V. (Có mặt) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và làm chứng:

- Chị Tô Thị Ngọc G1, sinh năm: 1993, trú tại: Nhà T, đường P, Phường A, TP ., tỉnh Bà ịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)

- Chị Lê Thanh T2, sinh năm: 1988, trú tại: D đường B, phường N, TP ., tỉnh Bà ịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)

- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm: 2002, trú tại: 1216/7/10/12 đường C, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)

- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm: 2001, trú tại: 1 đường C, Phường A, Tp ., tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, Đ1, Công an thành phố V phối hợp với Công an phường N, thành phố V tiến hành kiểm tra Nhà nghỉ D, địa chỉ: D B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu do bị cáo Bùi Bá G làm chủ, bắt quả tang 02 cặp nam nữ tại phòng số 04 và 06 đang thực hiện hành vi mua bán dâm, cụ thể: Phòng số 04: Người bán dâm là Tô Thị Ngọc G1; người mua dâm là Nguyễn Văn T3; Phòng số 06: Người bán dâm là Lê Thanh T2, người mua dâm là Nguyễn Văn S.

Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành lập biên bản vụ việc và thu giữ tang vật gồm: 02 bao cao su đã qua sử dụng; số tiền 800.000đồng; 01 đầu thu Camera nhãn hiện Hikvision màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi edmi 10.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Bùi Bá G khai nhận vào ngày 17/6/2023, bị cáo G thuê lại Nhà nghỉ 462 của anh Lê Việt A với giá 10.000.000đồng/tháng để kinh doanh nhà nghỉ. Tuy nhiên, do việc kinh doanh nhà nghỉ Ế, để kiếm thêm thu nhập, vào tháng 8/2023, bị cáo G đã thỏa thuận thuê thêm căn nhà bên cạnh địa chỉ: D B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu do bà Nguyễn Thị L, với giá 5.000.000đồng/tháng để mở quán Cà phê V. Sau đó, bị cáo G cho Lê Thanh T2 và Tô Thị Ngọc G1 đến làm việc tại quán C, bị cáo G thỏa thuận với T2 và G1 làm việc tại quán không được hưởng lương mà hưởng theo chênh lệch giá bán. Trong quá trình T2 và G1 bán cà phê, bị cáo G thấy T2 và G1 hay dẫn người sang thuê phòng nên biết T2 và G1 ngoài bán cà phê còn bán dâm kiếm thêm thu nhập. Bị cáo G nói với T2 và G1 dẫn sang nhà nghỉ D do bị cáo G làm chủ thuê phòng bán dâm. Bị cáo G chỉ hưởng lợi từ tiền bán Cà phê, nước cho khách và tiền phòng T2 và G1 thuê dẫn khách sang bán dâm với giá 50.000đồng/01tiếng.

Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 14/12/2023, Lê Thanh T2 và Tô Thị Ngọc G1 đang ở quán C 462 B, thì Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T3 đến hỏi “Ở đây có thư giãn Massage không?”, T2 trả lời “Có Massage thư giãn”, S và T3 hỏi giá cả như thế nào thì được T2 trả lời “Massage xong rồi quan hệ tình dục cho 01 lần với giá là 400.000đồng, được bao tiền phòng” và được S và T3 đồng ý. Tiếp đó, T2 và G1 dẫn S và T3 qua Nhà nghỉ D do bị cáo Bùi Bá G làm chủ để thuê phòng bán dâm cho khách. Khoảng 23giờ 00phút cùng ngày, T2 và G1 đến nhà nghỉ D thì thấy bị cáo G đang ngồi trực ở quầy lễ tân, T2 liền nói “Cho em mướn phòng”, thấy T2 và G1 dẫn S và T3 qua thuê phòng thì bị cáo G biết rằng để thực hiện việc bán dâm và đồng ý cho thuê phòng. Bị cáo G lấy chìa khóa phòng số 04, 06 đưa cho G1 và T2. Sau khi nhận chìa khóa phòng, T2 và G1 nói với bị cáo G “Cho xin 1 cái bao cao su”, bị cáo G chỉ vào chỗ để bao cao su ngay phía cửa ra vào để G1 và T2 lấy. Sau đó, G1 dẫn T3 lên phòng số 04, T2 dẫn S lên phòng số 06 để thực hiện hành vi mua bán dâm. Trong lúc T2, G1, S, T3 đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ tang vật như trên.

Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Bá G khai nhận mình là chủ quán Cà phê Võng 462B B, chủ Nhà nghỉ 462, bị cáo G biết việc Lê Thanh T2 và Tô Thị Ngọc G1 nhân viên của quán Cà phê thực hiện hành vi mua bán dâm cho khách nhưng vẫn đồng ý và cho thuê phòng tại Nhà nghỉ D để thực hiện hành vi bán dâm cho khách. Lời khai của G phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, quá trình điều tra, truy tố vụ án, Bùi Bá G đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội, ăn năn hối lỗi về việc mình đã gây ra.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: 02 bao cao su đã qua sử dụng; 800.000đồng; 01 đầu thu Camera nhãn hiện Hikvision màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi edmi 10 là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của Bùi Bá G, chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu tiếp tục bảo quản, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 190/CT-VKSTPVT ngày 06/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Bùi Bá G về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi bán dâm của Tô Thị Ngọc G1, Lê Thanh T2, ngày 12/5/2024, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội, bằng hình thức phạt tiền, mỗi đối tượng phạt số tiền 400.000 đồng.

Đối với hành vi mua dâm của Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn S, ngày 12/5/2024, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, bằng hình thức phạt tiền, mỗi đối tượng phạt số tiền 1.500.000đồng.

Đối với Lê Việt A là người cho Bùi Bá G thuê nhà nghỉ D và đứng tên Giấy phép kinh doanh nhà nghỉ, kết quả điều tra xác định Việt A không tham gia quản lý cơ sở, không biết việc G thuê để hoạt động mại dâm nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Việt A.

Đối với bà Nguyễn Thị L là người cho Bùi Bá G thuê căn nhà địa chỉ D B để bán Cà phê, bà L không biết G thuê để hoạt động mại dâm nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với bà L.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Bùi Bá G đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo. Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Bùi Bá G về tội “Chứa mại dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Bá G từ 18 đến 24 tháng tù; Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 800.000đồng; trả lại cho bị cáo 01 đầu thu Camera nhãn hiện Hikvision màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 10.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Bá G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào lúc 23giờ 00 phút ngày 14/12/2023, tại Nhà nghỉ D, địa chỉ: D đường B, phường N, Tp ., tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu do bị cáo Bùi Bá G làm chủ, bị cáo G đã có hành vi cung cấp địa điểm cho 02 gái mại dâm là Tô Thị Ngọc G1 và Lê Thanh T2 thực hiện hành vi bán dâm cho Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn S nhằm thu lợi tiền thuê phòng của G1 và T2 là 100.000đồng.

Hành vi bị cáo Bùi Bá G đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, dù biết hành vi chứa mại dâm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với mục đích thu lợi bất chính; hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng của địa phương và xã hội; ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung về tội phạm xã hội. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5] Về xử lý vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng là tang vật vụ án.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 800.000đồng vì có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo.

- Trả lại cho bị cáo Bùi Bá G: 01 đầu thu Camera nhãn hiện Hikvision màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi edmi 10 vì không có căn cứ xác định có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Bá G phạm tội “Chứa mại dâm”

Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Bá G 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù còn lại được tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bao niêm phong chứa bao cao su đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo Bùi Bá G: 01 đầu thu Hikvision màu trắng đã niêm phong và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi edmi 10, số IMEI 1: 867108063570686, số IMEI 2: 867108063570694

Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 228/BB-CCTHADS ngày 12/6/2024

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) theo Ủy nhiệm chi ngày 12/6/2024 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N, Chi nhánh V1.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Bá G phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà ịa – Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ