vanban.org

Bản án 402/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 15/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Quang N, Lê Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Quang N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang N cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 402/2021/HS-ST
Ngày: 15-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thanh Thuỷ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Nguyệt

2. Bà Lê Thị Thiện

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 420/2021/HSST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 425/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1.Trần Quang N, sinh năm 2001 tại A; nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh A; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hoà hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang B, sinh năm 1974 và bà Trần Thị C, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam ngày 05/06/2021 cho đến nay. Bị cáo có yêu cầu xét xử vắng mặt theo đơn ngày 03/12/2021.

2. Lê Trung K, sinh năm 1996 tại A. Nơi cư trú: Khóm V, thị trấn V1, huyện C, tỉnh A; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con Lê Ngọc Th, sinh năm 1974 và bà Lê Ngọc K, sinh năm 1975; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm 1997 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt, tạm giam ngày 05/06/2021 cho đến nay. Bị cáo có yêu cầu xét xử vắng mặt theo đơn ngày 03/12/2021.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Văn K1, trú tại: 107 yersin, phường P, thành phố N, tỉnh Tr. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Hùng H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 04 giờ 20 phút ngày 05/6/2021, đội Cảnh sát ĐTTP về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Thuận An phối hợp Công an phường An Thạnh tuần tra đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường H và đường Cách Mạng Tháng Tám thuộc khu phố T, phường A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thì phát hiện Trần Quang N điều khiển xe mô tô biển số 79N2-947.62 chở theo phía sau Lê Trung K có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, N và K đều khai nhận bản thân có sử dụng ma tuý đá. Lúc này, K lấy từ bên trong túi áo phía trước bên trái K đang mặc ra 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong đều chứa tinh thể màu trắng và khai nhận là ma tuý đá của K và N vừa góp chung số tiền 300.000 đồng mua để cùng nhau sử dụng. Lực lượng Công an tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và K cùng tang vật như trên.

Tang vật thu giữ: 02 (hai) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma tuý tổng hợp); 01 (một) xe mô tô mang biển số 79N2-947.62.

Quá trình điều tra xác định, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 03 giờ sáng ngày 05/6/2021, K rủ N góp tiền mua ma tuý để sử dụng, K góp 200.000 đồng, N góp 100.000 đồng để mua 300.000 đồng ma tuý đá. Sau đó, N cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô 79N2-947.62 chở theo K đến trước khu vực quán cà phê Tình Bằng Hữu thuộc khu phố B, phường G, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương gặp đối tượng tên V cao khoảng 1,7 mét, nước da ngăm đen, nói giọng bắc (không rõ nhân thân, địa chỉ) mua 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong đều chứa tinh thể màu trắng là ma tuý đá với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua xong, N đưa 02 đoạn ống hút chứa ma tuý đá trên cho K cất giấu rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng, trên đường đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường H và đường Cách Mạng Tháng Tám thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.

Ngày 10/6/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có Bản kết luận giám định 312/MT-PC09 ngày 10/6/2021, kết luận: 02 (hai) đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong đều chứa tinh thể màu trắng là ma túy có khối lượng/trọng lượng 0,2010 gam, loại Methamphetamin.

Tại bản Cáo trạng số 419/CT-VKS -TA ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Trần Quang N và Lê Trung S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Quang N và bị cáo Lê Trung K mỗi bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;

Về xử lý vật chứng: Một bì thư niêm phong ghi số 312/ PC09 bên trong chứa chất ma túy sau khi giám định còn lại là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên đề xuất tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu suzuki raider, dung tích xilanh 147cm3, mang biển kiểm soát 79N2- 947.62, số khung RLSDL11ANKV121477, số máy CGA1-520329, không chìa khoá quá trình điều tra bị cáo N khai nhận mượn của một người bạn quen biết ngoài xã hội tên Tình (không rõ nhân thân, địa chỉ) vào ngày 04/6/2021 để đi công việc.Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không đủ thông tin lai lịch ông T2 để làm rõ xử lý vật chứng theo quy định. Qua tra cứu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Cơ quan điều tra đã tiến hành truy nguyên số khung, số máy nhưng không có dữ liệu chủ sở hữu, xét thấy chiếc xe này các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, không có dữ liệu chủ sở hữu nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với chiếc biển số xe 79N2-947.62, qua tra cứu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ xác định do ông Phạm Văn K1 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 19/8/2021, Cơ quan điều tra công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định ủy thác điều tra số 589 ủy thác đến Công an thành phố Tr để tiến hành xác minh, ghi lời khai ông K1 để làm rõ, xử lý chiếc biển số xe 79N2-947.62 theo quy định nhưng đến nay chưa làm việc được với ông K1. Xét thấy, nguồn gốc chiếc biển số 79N2-947.62 chưa được làm rõ nên đề nghị tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh, xử lý.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh tại khu vực trên nhưng không có thông tin đầy đủ về đối tượng này, nên không có cơ sở để xác minh xử lý.

Các bị cáo tự nguyện có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Trần Quang N có yêu cầu xét xử vắng mặt, đơn được Nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An xác nhận ngày 03/12/2021; bị cáo Lê Trung K có yêu cầu xét xử vắng măt được Nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An xác nhận ngày 03/12/2021. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của các bị cáo, việc vắng mặt của các bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, biên bản giao nhận Cáo trạng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và trong nội dung đơn yêu cầu xét xử vắng mặt các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng như Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên; của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Trong biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/6/2021 (BL 32), bản tự khai ngày 05/06/2021 (BL 71, 86) và các Biên bản ghi lời khai và đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo Trần Quang N, Lê Trung K đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/6/2021 tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường H và đường Cách Mạng Tháng Tám thuộc khu phố T, phường A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Trần Quang N và Lê Trung K có hành vi tàng trữ trái phép 0,2010 gam ma túy loại Methamphetamin nhằm mục đích sử dụng.

Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Quang N, Lê Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận nhân dân. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, các bị cáo đã cất giấu ma túy, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy phải xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Một bì thư niêm phong ghi số số 312/ PC09 bên trong chứa chất ma túy sau khi giám định còn lại không có giá trị sử dụng là vật chứng trong vụ án nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu suzuki raider, dung tích xilanh 147cm3, mang biển kiểm soát 79N2- 947.62, số khung RLSDL11ANKV121477, số máy CGA1-520329, không chìa khoá, không có dữ liệu chủ sở hữu nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với biển số 79N2-947.62 chưa được làm rõ nên đề nghị tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh, xử lý.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điều 106, Điều 136, điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Quang N, Lê Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Quang N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2021.

Xử phạt bị cáo Lê Trung K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2021.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong, ghi số số 312/ PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Bên ngoài có chữ ký người chứng kiến Trần Quang N và Lê Trung K, bên giao Trần Hoàng Huy, bên nhận Phan Trung Chính và hình dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (kèm theo kết luận giám định số 312 đề ngày 10/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương).

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc xe môtô hai bánh, nhãn hiệu SUZUKI RAIDER, dung tích xilanh 147cm3, mang biển kiểm soát 79N2-947.62, số khung RLSDL11ANKV121477, số máy CGA1-520329, không chìa khoá (kèm theokeets luận giám định số 250A/SKSM-PC09 đề ngày 10/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương).

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

- Giao cho Công an thành phố Thuận An tiếp tục quản lý 01 (một) chiếc biển số 79N2-947.62 để xác minh làm rõ và xử lý theo pháp luật khi có đủ chứng cứ.

3. Về án phí:

Buộc bị cáo Trần Quang N, Lê Trung K mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ