vanban.org

Bản án 402/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 27/12/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/12/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Phước H, Đặng Thị Hương G, Nguyễn Thị M phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!!!TỈNH!ĐẮK!LẮK!!
!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 402/2018/HSPT
Ngày: 27-12-2018

NHÂN!DANH

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!ĐẮK!LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đức.

Các Thẩm phán: 1. Ông Trương Công Bình.

2. Bà Lưu Thị Thu Hường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2018, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 401/2018/TLPT-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018, do có kháng cáo của các bị cáo Phùng Phước H, Đặng Thị Hương G, Nguyễn Thị M đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2018/HS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Phùng!Phước!H, sinh năm 1987, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: xã K, huyện P, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Thổ; trình độ học vấn: 01/12; con ông Nguyễn Tấn S và bà Phùng Thị T; có vợ là H’L Niê và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 15/11/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2018 đến ngày 16/8/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, có mặt.

2. Họ và tên: Đặng!Thị!Hương!G, sinh năm 1973, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: xã P, huyện P, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; con ông Đặng H và bà Lê Thị H; có chồng là Văn Hữu D và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 16/6/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm về tội

1

“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2018 đến ngày 16/8/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn!Thị!M, sinh năm 1958, tại tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: xã P, huyện P, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; con ông Nguyễn T và bà Bùi Thị L (đều đã chết); có chồng là Phan Đình T (đã chết) và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1979, con nhỏ nhất sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 26/02/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội đánh bạc.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2018 đến ngày 28/7/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị Tuyết H, Nguyễn Thị Thủy P, Trần Thị Thúy H, Nguyễn Thị T nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị. Đối với bị cáo Bùi Đ, ngày 08/11/2018, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tuy nhiên ngày 11/12/2018, bị cáo đã có văn bản về việc rút toàn bộ kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 21/7/2018, D (chưa xác định được nhân thân lai lịch) đến cầm cái đánh bạc tại sau vườn nhà của bà Phạm Thị N ở xã K, huyện P, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, Phùng Phước H đến và dùng 800.000 đồng cầm cái thay D để cho Bùi Đ dùng 420.000 đồng, Nguyễn Thị T dùng 450.000 đồng, Nguyễn Thị Tuyết H dùng 130.000 đồng, Trần Thị Thúy H dùng 190.000 đồng, Nguyễn Ngọc T dùng 1.500.000 đồng, Nguyễn Thị M dùng 1.100.000 đồng, Đặng Thị Hương G dùng 200.000 đồng, Nguyễn Thị Thủy P dùng 500.000 đồng và Trần Thị H dùng 80.000 đồng đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện Krông Pắc bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 5.810.000 đồng, thu trên người các đối tượng đánh bạc 12.630.000 đồng và toàn bộ vật chứng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2018/HSST ngày 30/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Phùng Phước H, Đặng Thị Hương G, Nguyễn Thị M phạm tội: “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

2

Xử phạt bị cáo Phùng Phước H 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2018 đến ngày 16/8/2018.

Xử phạt bị cáo Đặng Thị Hương G 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2018 đến ngày 16/8/2018.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/7/2018 đến ngày 28/7/2018.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt đối với các bị cáo khác, tuyên xử về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/11/2018, 06/11/2018, 07/11/2018 các bị cáo Phùng Phước H, Đặng Thị Hương G, Nguyễn Thị M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm cũng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phùng Phước H 01 năm tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 06 tháng tù là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi cũng như nhân thân của các bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự , giữ nguyên mức hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo H và bị cáo M.

Xét mức hình phạt 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Đặng Thị Hương G là tương xứng. Tuy nhiên, bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền chỉ 200.000 đồng, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, có con còn nhỏ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo G theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được

3

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 21/7/2018, các bị cáo Phùng Phước H, Đặng Thị Hương G, Nguyễn Thị M cùng các bị cáo khác đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa thì bị Công an huyện Krông Pắc bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 5.810.000 đồng, thu trên người các đối tượng đánh bạc 12.630.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.

[2] Xét mức hình phạt 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị M là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Việc bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo là không thể chấp nhận, bởi lẽ năm 2013 bị cáo đã bị xét xử về tội “Đánh bạc” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại phạm tội “Đánh bạc”. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo M, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

Xét mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Phùng Phước H là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, số tiền mà bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh khó khăn, có con còn nhỏ, bị cáo là dân tộc Thổ, có trình độ học vấn thấp (1/12), vì vậy cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

Xét mức hình phạt 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Đặng Thị Hương G là phù hợp. Tuy nhiên, việc bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết. Bởi lẽ, bị cáo tham gia với vai trò, mức độ thứ yếu, bị cáo chỉ dùng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nuôi con nhỏ. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự để chấp nhận kháng cáo của bị cáo G theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Do được chấp

4

nhận một phần kháng cáo nên các bị cáo Phùng Phước H, Đặng Thị Hương G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

[1] Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phùng Phước H.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Hương G.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2018/HSST ngày 30/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/7/2018 đến ngày 28/7/2018.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Phùng Phước H 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2018 đến ngày 16/8/2018.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Đặng Thị Hương G 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Đặng Thị Hương G cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3]Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Phùng Phước H, Đặng Thị Hương G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ