- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Võ Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Phi H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Võ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Phi Ha.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 401/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/5/2025. “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khổng Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Tú Nga
2. Ông Phạm Ngọc Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Hương Giang là Thư ký Tòa án nhân dân Tp.Q, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Q, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Q, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 95/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị H, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Tổ 13, khu phố 3, phường H, TP. Q, Bình Định.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phi Ha, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Tổ 2, khu phố 11, phường N, TP. Q, Bình Định.
(Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh HA vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Võ Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Phi Ha tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 13/8/2015 tại UBND phường N, Tp Q. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Ha thường xuyên đánh chị và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Năm 2023 chị đã nộp đơn ly hôn tại Toà nhưng anh Ha hứa sẽ thay đổi nên chị rút đơn khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, anh Ha vẫn không thay đổi và tiếp tục quan hệ với người phụ nữ đó. Hiện nay vợ chồng đã ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phi Ha.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Phi H1, sinh ngày 22/02/2016 và cháu Nguyễn Phúc H2 sinh ngày 30/8/2020. Hiện nay các cháu đang sống với chị, sức khoẻ bình thường, sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi các cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Toà giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Phi Ha đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Hậu không đến Tòa làm việc nên Tòa án không lấy được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Q phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm gi i quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Phi Ha.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phi H1 sinh ngày 22/02/2016 và cháu Nguyễn Phúc H2 sinh ngày 30/8/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật:
Chị Võ Thị Hà có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn với anh Nguyễn Phi Ha, trú tại Tổ 2, khu phố 11, phường N, TP. Q, Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Võ Thị H và anh Nguyễn Phi Ha đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Ha vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh Ha theo thủ tục chung.
Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị H và anh Nguyễn Phi Ha trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/8/2015 tại UBND phường N, Tp Q đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc bình thường đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Ha có quan hệ với người phụ nữ khác, dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã, không còn tiếng nói chung, nên chị yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Phi Ha. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Ha không đến Tòa làm việc nên không lấy được lời khai của anh.
Xét thấy giữa vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nhưng trong quá trình chung sống, anh Ha có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác gây tổn thương cho chị H. Năm 2023 chị H đã nộp đơn ly hôn tại Toà, anh Ha hứa sẽ thay đổi nên chị rút đơn khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ. Chị đã nhiều lần tha thứ nhưng anh Ha không thay đổi. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn của anh, chị đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn anh Ha là phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị H và anh Ha có 02 con chung là cháu Nguyễn Phi H1, sinh ngày 22/02/2016 và cháu Nguyễn Phúc H2 sinh ngày 30/8/2020. Hiện nay các cháu đang sống với chị, sức khoẻ bình thường, sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi các cháu.
Tòa xét: Việc nuôi con sau khi ly hôn phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con, trong quá trình chung sống đến thời điểm vợ chồng sống ly thân, cháu H1 và cháu H2 đều do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu H1 có nguyện vọng được sống với chị H (BL 21), cháu H2 còn nhỏ cũng cần có sự quan tâm chăm sóc từ mẹ nên yêu cầu của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Phi H1 sinh ngày 22/02/2016 và cháu Nguyễn Phúc H2 sinh ngày 30/8/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Võ Thị H không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Võ Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q phát biểu phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Võ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Phi Ha.
2. Về con chung:
2.1. Giao cháu Nguyễn Phi H1, sinh ngày 22/02/2016 và cháu Nguyễn Phúc H2 sinh ngày 30/8/2020 cho chị Võ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn c n. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để c n trở hoặc gây nh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
2.2 Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị H không yêu cầu nên Toà không giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Võ Thị H không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Võ Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001238 ngày 21/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị H đã nộp xong.
5. Quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - UBND P. Ngô Mây (GCNKH số 99 ngày 13/8/2015); - Đương sự; - Lưu hồ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khổng Lan Hương |