- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NGÂN HÀNG TMCP S-NGUYỄN THỊ YẾN T"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 400/2025/DS-ST Ngày: 29-8-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Lê Diễm Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Phạm Thị Phước
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2025/TLST-DS ngày 7/5/2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QĐST-DS ngày 31/7/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S
Trụ sở: Số 266-268 đường L, phường Q (trước đây là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nhật Kinh K; địa chỉ: 278 đường L, phường Q (trước đây là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông K đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Yến T, sinh năm 2002
Địa chỉ: 254/98/28B A, phường H (trước đây là Phường X, quận B), Thành phố Hồ Chí Minh (bà Thư vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 05/8/2022, bà Nguyễn Thị Yến T (sau đây gọi là bị đơn) có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi là nguyên đơn/ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), hạn mức tín dụng 35.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng 2.77%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 51.073.974 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau theo Điều 23 Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bị đơn chỉ thanh toán số tiền 18.260.000 đồng. Từ ngày 16/5/2023 bị đơn không thanh toán khoản tiền còn nợ mặc dù nguyên đơn nhiều lần nhắc nhở. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 16/5/2023 nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn tại thời điểm này dư nợ gốc là 41.181.669 đồng và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất được công bố. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ tính đến ngày 29/8/2025 là 88.852.167 đồng, trong đó nợ gốc là 41.181.669 đồng, lãi quá hạn là 47.670.498 đồng. Ngoài ra, Bị đơn còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 30/8/2025 cho đến khi trả hết các khoản tiền nợ gốc và lãi theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Trong quá trình giải quyết, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng hạn mức 35.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Yến T. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại điều 18, 19, 20 của Hợp đồng cho vay, Ngân hàng đã thông báo thu hồi nợ trước hạn, thông báo khởi kiện và thu hồi nợ gửi cho bà T. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP S tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn là bà Nguyễn Thị Yến T. Tại kết quả xác minh của công an phường X, quận B thì bà Nguyễn Thị Yến T, sinh năm 2002, hộ khẩu: 254/98/28B A, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, tạm trú ấp D, Đ, V, Long An. Căn cứ kết quả xác minh của Công an xã D, V, Long An thì bà Nguyễn Thị Yến T không đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú và cũng không có thực tế sinh sống tại ấp D, Đ, V, Long An. Nơi ở hiện tại trên hệ thống dữ liệu dân cư là 254/98/28B A, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số hợp đồng 251/2022/TTD ngày 05/8/2022 thể hiện bị đơn có địa chỉ 254/98/28B A, Phường X, quận B, nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh
Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị Yến T thanh toán số tiền nợ tổng cộng là: 88.852.167 đồng và lãi phát sinh từ ngày 30/8/2025 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng:
Căn cứ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số hợp đồng 251/2022/TTD ngày 05/8/2022, bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Tơng mại Cổ phần S, xác nhận của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì có đủ cơ sở xác định Ngân hàng S có cấp thẻ tín dụng cho bị đơn với hạn mức tín dụng 35.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 51.073.974 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, chỉ thanh toán số tiền 18.260.000 đồng. Từ ngày 16/5/2023 bị đơn không thanh toán khoản tiền còn nợ mặc dù nguyên đơn nhiều lần nhắc nhở. Ngày 16/5/2023 nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 41.181.669 đồng đồng sang nợ quá hạn.
Đối chiếu lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xét thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết với nguyên đơn. Tính đến ngày 29/8/2025, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền như sau: 88.852.167 đồng, trong đó nợ gốc là 41.181.669 đồng, lãi quá hạn là 47.670.498 đồng.
Trong quá trình Tòa án giải quyết, bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày hay phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 29/8/2025 là 88.852.167 đồng và tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ ngày 30/8/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận là phù hợp với quy định các Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Phương thức và thời hạn thanh toán: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn, nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.442.608 đồng.
Hoàn lại cho nguyên đơn toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.364.146 đồng.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp nhận định nêu trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, 271, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
Buộc bà Nguyễn Thị Yến T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 88.852.167 đồng (tám mươi tám triệu tám trăm năm mươi hai ngàn một trăm sáu mươi bảy) đồng. Trong đó: nợ gốc: 41.181.669 (bốn mươi mốt triệu một trăm tám mươi mốt ngàn sáu trăm sáu mươi chín) đồng; lãi quá hạn đến ngày 29/8/2025 là 47.670.498 (bốn mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi ngàn bốn trăm chín mươi tám) đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày 30/8/2025 bà Nguyễn Thị Yến T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số hợp đồng 251/2022/TTD ngày 05/8/2022, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S
Thời hạn và phương thức trả: Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Yến T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.442.608 (bốn triệu bốn trăm bốn mươi hai ngàn sáu trăm lẻ tám) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.364.146 đồng (một triệu ba trăm sáu mươi bốn ngàn một trăm bốn mươi sáu) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003692 ngày 02/4/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4/Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND khu vực 4- TP.HCM; - THADS TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu vp, hồ sơ. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Lê Diễm Thúy HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA |