- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng SGTT yêu cầu ông Nguyễn Trần Thanh T trả nợ theo hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 400/2025/DS-ST Ngày: 28 - 8 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Hồng Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Vân
2. Ông Nguyễn Ngọc Thạch
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyến là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1098/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 1145/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: N G Thương mại cổ phần SGTT; Địa chỉ trụ sở: Số 266-268 đường N, phường X (phường V, Quận 3 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T, sinh năm 1987; Địa chỉ nơi làm việc: Số 266-268 đường N, phường X (phường V, Quận 3 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 2352/2024/GUQ-CNSG ngày 26/11/2024).
Bị đơn: Ông Nguyễn Trần Thanh T, sinh năm 2002; Địa chỉ: số 223/3 Đường số 8, phường T (Phường 11, quận G cũ), Thành phồ Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ngày 20 tháng 9 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Dương Văn T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 04/10/2022, N G Thương mại cổ phần SGTT (gọi tắt là N G) và ông Nguyễn Trần Thanh T ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của N G).
Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa, số thẻ 472074-8412, hạn mức là 50,000,000 đồng.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch từ ngày 10/10/2022 đến nay với tổng số tiền là 103,070,752 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông T đã thanh toán cho N G số tiền 54,660,000 đồng, N G áp dụng thứ tự thanh toán theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của N G.
Ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của N G), ngày 11/9/2023 N G đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của N G). N G đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 61,122,501 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.
Tính đến ngày 28/8/2025, ông T còn nợ các khoản sau: nợ gốc: 61,122,501 đồng và lãi quá hạn: 60,693,976 đồng. Tổng cộng: 121,816,477 đồng.
Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên N G khởi kiện yêu cầu:
- Ông Nguyễn Trần Thanh T có nghĩa vụ trả cho N G tổng số là 121,816,477 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong đó: nợ gốc: 61,122,501 đồng và lãi quá hạn tính đến ngày 28/8/2025: 60,693,976 đồng
- Ông Nguyễn Trần Thanh T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 29/8/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
2. Bị đơn – ông Nguyễn Trần Thanh T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định. Tuy nhiên, Thẩm phán vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng qui định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
Về tố tụng:
- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng. Ông T cư trú tại quận G(nay là phường T ), Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về người tham gia tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông Nguyễn Trần Thanh T nhưng ông T vắng mặt, không nộp (gửi) cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/10/2022 và tóm tắt sao kê đối với thẻ số 472074-8412 ngày 28/8/2025 của N G, Hội đồng xét xử xét thấy N G yêu ông T trả cho N G tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 121,816,477 đồng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, N G yêu cầu ông T thanh toán tiền lãi phát sinh theo quy định theo hợp đồng đã ký kể từ ngày 29/8/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp với Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã lâu nên N G yêu cầu ông T trả nợ gốc và nợ lãi ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Buộc ông Nguyễn Trần Thanh T trả cho N G Thương mại cổ phần SGTT tổng số nợ là 121,816,477 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu tám trăm mười sáu ngàn bốn trăm bảy mươi bảy) đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong đó: nợ gốc là 61,122,501 (sáu mươi mốt triệu một trăm hai mươi hai ngàn năm trăm lẽ một) đồng và lãi quá hạn tính đến ngày 28/8/2025: 60,693,976 (sáu mươi triệu sáu trăm chín mươi ba ngàn chín trăm bảy mươi sáu) đồng.
Kể từ ngày 29 tháng 8 năm 2025, ông T tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/10/2022 và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của N G cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT được nhận lại số tiền tạm nộp án phí khi khởi kiện là 2,299,417 (hai triệu hai trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm mười bảy) đồng theo theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23P số 0014768 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G(nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7), Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông T phải nộp số tiền án phí là 6,090,824 (sáu triệu không trăm chín mươi ngàn tám trăm hai mươi bốn) đồng.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Thành phố Hồ Chí Minh;
- Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Châu Thị Hồng Đào
Thành viên
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Hội đồng xét xử
Châu Thị Hồng Đào
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Hồng Đào Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Châu Thị Hồng Đào |