vanban.org

Bản án 400/2018/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H Q - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH
Bản án số: 400/2018/HSPT
Ngày: 17/9/2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Quách Thanh Bình

Các"Thẩm"phán:""""""""""""""""""""""""""Bà Trần Thị Lệ Uyên

Ông Nguyễn Văn Hậu "

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:

334/2018/TLPT-HS ngày 26 tháng 7 năm 2018 đối với các bị cáo H và Q do

có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đối với Bản án

hình sự sơ thẩm số 49/2018/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2018 của Tòa án

nhân dân quận Tân Bình.

Các"bị"cáo"bị"kháng"nghị:"

1.!H,!sinh ngày 06 tháng 3 năm 1996 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú:

Thôn 6, xã C, huyện L1, tỉnh T1; Nơi ở: 80/63A N2, Phường 15, quận B, M;

nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông H và bà L1; chưa có vợ,

con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 03/12/2014 bị Tòa án nhân

dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Gây

rối trật tự công cộng” (bản án số 296). Bị bắt tạm giam ngày 18/5/2017 (Có

mặt).

2.!Q,!sinh ngày 03 tháng 11 năm 1999 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: K,

phường K, quận C, thành phố P; Nơi ở: 80/63A N2, Phường 15, quận B, M;

nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T2 và bà L; chưa có vợ, con;

tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam ngày 18/5/2017 (Có mặt).

Người"làm"chứng:""

Ông T, sinh năm 1988 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: 130/57 H4, Phường 2, quận B, Thành phố M.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 18/5/2017, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm

về ma túy Công an quận Tân Bình phát hiện bắt quả tang Q có dấu hiệu bán ma túy cho T tại trước nhà số 51/38A Cống Lở, Phường 15, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nên đã mời cả hai về trụ sở Công an Phường 15, quận Tân Bình làm việc. Qua kiểm tra khám xét phát hiện, thu giữ trong túi quần Jean phía trước bên phải của Q đang mặc có 2 gói nylon chứa chất tinh thể không màu hàn kín để trong ống nhựa màu vàng, bên ngoài quấn băng keo và giấy vệ sinh được cột dây thun màu vàng. Bước đầu, Q khai nhận chất tinh thể không màu trong những bao nylon là chất ma túy tổng hợp do H là bạn ở chung tại số 80/63A Huỳnh Văn Nghệ, Phường 15, quận Tân Bình, đưa Q đi bán cho T lấy số tiền 1.100.000 đồng đem về đưa cho H, nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra còn tạm giữ của Q chiếc mô tô hiệu Honda Airblade, biển số

52T7-5718, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, 01 quẹt gas màu vàng và số tiền 23.000 đồng, tạm giữ của T số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám xanh. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Q và T cho kết luận: Cả hai đều dương tính ma túy, chất lọao Methamphetamine.

Mở rộng điều tra, vào lúc 16 giờ 45 phút ngày 18/5/2017 Đội Cảnh sát

điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Tân Bình tiến hành khám xét nhà số 80/63A Huỳnh Văn Nghệ, Phường 15, quận Tân Bình phát hiện bắt quả tang H đang cất giấu 01 gói nylon chứa chất tinh thể không màu trong túi nhỏ phía trước bên phải quần Jean (H khai là chất ma túy tổng hợp). Thu giữ trong phòng ngủ trên gác gồm: 01 bình hút bằng nhựa, 01 bình gas, 02 cân điện tử màu đên trên mặt có chữ Ampud, 03 cây kéo bằng kim loại; số tiền 250.000 đồng và 05 điện thoại di động các loại.

Bản kết luận giám định số 960/KLGĐ-H ngày 29/5/2017 của Phòng Kỹ

thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên

ngoài có 04 dấu vân tay, chữ ký ghi tên H và hình dấu Công an Phường 15, quận Tân Bình gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,2907 (một phẩy hai chín không bảy gam), loại Methamphetamine.

- Gói 2: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên

ngoài có 04 dấu vân tay, chữ ký ghi tên Q và hình dấu Công an Phường 15,

quận Tân Bình gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7994

(không phẩy bảy chín chín bốn gam), loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra thể hiện:

- T khai nhận: Bản thân Tnghiện chất ma túy, thông qua bạn bè T đã

mua ma túy của Q và H 02 lần, cụ thể:

+ Lần thứ nhất: T mua một gói ma túy tổng hợp của Q và H vào lúc 15

giờ ngày 16/5/2017, tại cây xăng “Nguyễn Phúc Chu” số 908 Trường Chinh,

Phường 15, quận Tân Bình với số tiền 300.000 đồng.

+ Lần thứ hai: T mua một bịch ma túy tổng hợp của Q và H với số tiền

1.100.000 đồng. Lần này T mới có 500.000 đồng, T dự định khi gặp H sẽ

đưa 500.000 đồng xin nợ lại 600.000 đồng trả sau, nhưng T chưa kịp đưa

tiền cho Q thì bị bắt quả tang.

- Q khai nhận: Do Q và H ở chung nhà số 80/63A Huỳnh Văn Nghệ,

Phường 15, quận Tân Bình, cả hai đều là người nghiện ma túy, để có tiền

tiêu xài và ma túy sử dụng, H rủ Q mua bán ma túy, Q đồng ý và đã cùng H

mua bán ma túy từ tháng 05/2017. Cả hai bàn bạc thỏa thuận cách thức mua

bán ma túy như sau: Khi khách hàng mua ma túy thì sẽ liên lạc vào số điện

thoại của H, số thuê bao 0907281942, H sẽ báo giá, phân chia ma túy và giao

cho Q mang đi giao ma túy cho khách hàng. Q được H trả công bằng bao ăn

uống và cho ma túy sử dụng. Vào lúc 15 giờ ngày 18/5/2017, H gọi Q về

phòng trọ cầm số ma túy và điện thoại di động của H đi bán ma túy cho T giá

1.100.000 đồng tại trước nhà số 51/38A Cống Lở, Phường 15, quận Tân

Bình. Q cất giấu ma túy vào túi quần và cầm điện thoại của H rồi chạy mô tô

biển số 52T7-5718 đến chỗ hẹn thì gặp T đang đi bộ tới nhưng Q chưa kịp

giao ma tuý lấy tiền thì bị bắt quả tang, đây là lần thứ hai Q bán ma tuý cho

T. Q khai lần thứ nhất bán ma tuý cho T vào khoảng 15 giờ ngày 16/5/2017

tại cây xăng đường Nguyễn Phúc Chu, Phường 15, quận Tân Bình 01 bịch

ma tuý tổng hợp với giá 300.000 đồng rồi đem tiền về giao lại cho H. Ngoài

hai lần bán ma tuý cho T thì Q không còn bán ma tuý cho ai khác, nguồn gốc

ma tuý là của H, Q không biết H mua của ai. Chiếc mô tô màu đen biển số

52T7-5718 Q sử dụng làm phương tiện đi bán ma tuý là của bà L (mẹ ruột

của Q), bà L cho Q mượn để làm phương tiện đi lại.

- H khai nhận: H đã rủ rê Q mua bán ma tuý tổng hợp từ ngày

03/5/2017 đến khi bị bắt. Q là người mua ma tuý về đưa cho H để H phân

chia ma tuý vào các gói nylon nhỏ, giới thiệu khách mua ma tuý cho Q, Q là

người đi giao ma tuý cho khách, số tiền hưởng lợi H và Q chia đôi. Khoảng

15 giờ ngày 18/5/2017 H đang ở phòng trọ thì T điện thoại hỏi mua

1.100.000 đồng ma tuý tổng hợp, sau khi thoả thuận giá H hẹn giao ma tuý

cho T tại cây xăng Nguyễn Phúc Chu, phường 15, quận Tân Bình. Sau đó H

phân ma tuý tổng hợp bỏ vào trong 02 gói nylon nhỏ, hàn kín hai đầu để trong ống nhựa màu vàng bên ngoài quấn băng keo, giấy vệ sinh và sợi dây thun rồi đưa cho Q và đưa điện thoại di động của H cho Q cầm theo để liên lạc với người mua ma tuý là T. Sau khi Q đi giao ma tuý thì khoảng 1 giờ sau Công an vào kiểm tra, khám xét bắt quả tang và thu giữ trong người H 01 gói ma tuý tổng hợp, H thừa nhận gói ma tuý trên H cất giấu nhằm mục đích bán cho các đối tượng nghiện ma tuý và H cũng thừa nhận số ma tuý Q mang đi bán, bị Công an thu giữ là của H giao cho Q để bán cho T. H khai toàn bộ số ma tuý trên là của Q mang về đưa cho H phân chia, tìm khách hàng bán chia đôi. H cùng Q đã bán ma tuý cho T 02 lần, cụ thể:

+ Lần thứ nhất: H giao ma tuý cho Q mang bán cho T một gói ma túy

tổng hợp vào lúc 15 giờ ngày 16/5/2017, tại cây xăng “Nguyễn Phúc Chu” số 908 Trường Chinh, Phường 15, quận Tân Bình với số tiền 300.000 đồng.

+ Lần thứ hai: H giao ma tuý cho Q mang bán cho T hai gói ma túy

tổng hợp với số tiền 1.100.000 đồng cũng tại cây xăng “Nguyễn Phúc Chu” số 908 Trường Chinh, Phường 15, quận Tân Bình thì bị bắt quả tang.

Do lời khai về nguồn gốc ma tuý của H và Q có mâu thuẫn với nhau,

Cơ quan điều tra tiến hành cho đối chất giữa H và Q nhưng cả hai vẫn giữ nguyên lời khai như ban đầu.

Tuy nhiên sau đó H, Q và T đều thay đổi lời khai ban đầu, cả ba đều

khai nhận chỉ thực hiện mua bán ma tuý một lần vào ngày 18/5/2017, không thực hiện mua bán ma tuý ngày 16/5/2017 (Bút lục 17-18, 108-110, 140-145, 153-159, 185-188, 209-214)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà L khai: Chiếc xe mô tô

màu đen biển số 52T7-5718 là của bà L mua tại một cửa hàng mua bán mô tô, xe gắn máy cũ tại quận Phú Nhuận vào năm 2009 nhưng không nhớ mua của cửa hàng nào, chưa làm thủ tục chuyển quyền theo luật định, chỉ có giấy chứng nhận đăng ký xe, Q mượn xe của bà L để đi công việc, sau đó dùng làm phương tiện phạm tội, bà L không biết, bà L yêu cầu được nhận lại chiếc mô tô trên để làm phương tiện đi lại.

Kết quả xác minh chiếc mô tô nhãn hiệu Honda màu đen biển số 52T7-

5718, có số máy 5014128-F18E, số khung 514057-Y, Q dùng làm phương tiện để đi mua bán ma tuý thể hiện chủ xe là bà H, cư trú tại TK24C/16 Nguyễn Cảnh Chân, phường Cầu Kho, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Hương đã chuyển nơi ở khác không rõ địa chỉ.

- Đối với T có hành vi mua bán ma tuý của H và Q nhưng chưa thực

hiện được, không cấu thành tội phạm. Qua test ma tuý đối với T tại Trung tâm y tế dự phòng quận Tân Bình cho kết quả: Dương tính với chất Methamphetamine nên Cơ quan điều tra Công an quận Tân Bình đã giao T cho Công an Phường 15, quận Tân Bình xử lý hành chính theo quy định.

Bản cáo trạng số 151/CTr-VKS ngày 18/10/2017 Viện kiểm sát nhân

dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo H và Q về tội

“Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình

sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại Bản án số 49/2018/HSST ngày 21/6/2018 của Toà án nhân dân

quận Tân Bình đã quyết định:

- Tuyên bố các bị cáo H và Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm n khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1

Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm

2009), xử phạt bị cáo H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ

ngày 18/5/2017.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều

69; khoản 1 Điều 74; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi,

bổ sung năm 2009), xử phạt bị cáo Q 02 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời

hạn tù tính từ ngày 18/5/2017.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí, quyền và

thời hạn kháng cáo.

Ngày 04/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã kháng nghị

một phần bản án hình sự sơ thẩm nêu trên, theo hướng áp dụng điểm b khoản

2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), tăng hình

phạt đối với các bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Các bị cáo H và Q chỉ thừa nhận hành vi bán ma tuý vào ngày

18/5/2017, không thừa nhận việc bán ma tuý vào ngày 16/5/2017.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Trong suốt giai đoạn điều tra cả hai bị cáo đều khai nhận đã mua bán

ma tuý 02 lần vào ngày 16/5/2017 và 18/5/2017, lời khai của các bị cáo phù

hợp với nhau, phù hợp với lời khai của T. Sau đó các bị cáo thay đổi lời khai

ban đầu nhưng không đưa ra được căn cứ chính đáng chứng minh cho việc

thay đổi lời khai của mình nên không có cơ sở để xem xét. Toà án cấp sơ

thẩm đã kết án hai bị cáo theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999

(sửa đổi, bổ sung năm 2009) là không đúng, do đó kháng nghị số 01/KN-

VKS-TB ngày 04/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình là có

cơ sở để chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị

của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình và áp dụng điểm b khoản 2 Điều

194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), xử phạt bị cáo H

từ 08 đến 09 năm tù, xử phạt bị cáo Q từ 04 đến 05 năm tù.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ vào lời khai của bị cáo H và Q, lời khai của người làm

chứng T, cụ thể là tại các bản tự khai, bản tường trình của H, Q và T (bút lục 80, 110, 159) biên bản ghi lời khai của H, Q và T (bút lục 70, 78, 108, 140), biên bản hỏi cung Q (bút lục 153-158, 185-188), biên bản hỏi cung H (bút lục 142-144) thì các bị cáo đều thừa nhận đã bán ma tuý cho T hai lần vào ngày 16/5/2017 và ngày 18/5/2017. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên đủ cơ sở xác định các bị cáo đã có hành vi bán ma túy cho T vào ngày 16/5/2017 và ngày 18/5/2017. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

[2] Sau đó, H, Q và T đều thay đổi lời khai chỉ thừa nhận việc mua bán

ma tuý vào ngày 18/5/2017. Còn ngày 16/5/2017 thì Q khai do Công an kêu nhận bán ma tuý 02 lần sẽ được giảm nhẹ tội, H khai do Công an kêu khai bán 02 lần sẽ cho về vì số lượng ma tuý ít, còn T thì cho rằng do lúc đó hút ma tuý chưa tỉnh táo nên khai không chính xác nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh cho việc thay đổi lời khai của mình. Xét thấy, các bản tự khai, bản tường trình đều do H, Q, T tự viết, các buổi lấy lời khai các bị cáo, người làm chứng đều đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và thể hiện rõ H, Q và T có sức khoẻ bình thường, minh mẫn, tỉnh táo. Do đó, lý do mà H, Q, T đưa ra về việc thay đổi lời khai là không có căn cứ để chấp nhận.

[3] Xét thấy, căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các

tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt bị cáo H 04 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Q 02 năm 06 tháng tù là không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, cần phải tăng hình phạt đối với các bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận kháng nghị số 01/KN-

VKS-TB ngày 04/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), tăng hình phạt đối với các bị cáo.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ

thẩm nên các bị cáo không phải chịu.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng

hình sự năm 2015.

1. Chấp nhận kháng nghị số 01/KN-VKS-TB ngày 04/7/2018 của Viện

kiểm sát nhân dân quận Tân Bình.

2. Sửa bản án sơ thẩm:

- Tuyên bố các bị cáo H và Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm n khoản 1 Điều 48; điểm p

khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ

sung năm 2009), xử phạt bị cáo H 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày

18/5/2017.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều

46; Điều 69; khoản 1 Điều 74; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999

(sửa đổi, bổ sung năm 2009), xử phạt bị cáo Q 05 (năm) năm tù, thời hạn tù

tính từ ngày 18/5/2017.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều

23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo H và Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi

hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,

tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các

Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được

thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2018/HSST

ngày 21/6/2018 của Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí

Minh không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày

hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ