vanban.org

Bản án 40/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Minh V 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Minh V - Tàng trữ trái phé chất ma tuý - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2026/HS-ST
Ngày: 26-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà và ông Phạm Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Đỗ Minh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - N sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026 (Sau đây viết tắt là 09/01/2026), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2026/QĐXXST-HS ngày 13/02/2026, đối với bị cáo:

Đỗ Minh V, sinh năm 1977, tại Ninh Bình; nơi thường trú: Thôn B V, xã B, tỉnh Ninh Bình; nơi ở: Thôn C V, xã B, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Trần Thị Đ; có vợ: Trần Thị T1 và có 04 con (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/11/2025 và chuyển tạm giam từ ngày 11/11/2025 đến nay; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Trần Thế Đ1; vắng mặt.

+ Người chứng kiến: Anh Trần Văn C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 05/11/2025, Tổ công tác Công an xã B, tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự ở khu vực đoạn đường thuộc thôn C V, xã B, tỉnh Ninh Bình thì phát hiện Đỗ Minh V, sinh năm 1977 đang đi bộ trên đường một mình, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy nên yêu cầu kiểm tra hành chính đối với V, phát hiện trong lòng bàn tay trái 01 túi nilon bên trong có tinh thể màu trắng. Tại chỗ, V khai nhận đó là ma túy đá, vừa đi mua về, cất giữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V và thu giữ, niêm phong túi nilon bên trong có tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu “QT01”, bàn giao Công an tỉnh N điều tra, xử lý theo pháp luật.

* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Minh V: Không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

* Tại bản kết luận giám định số 1808/KL-KTHS ngày 10/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu tinh thể trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,252g (Không phẩy hai trăm năm mươi hai gam), loại: Methamphetamine”.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của Đỗ Minh V để tiến hành trưng cầu giám định.

* Tại bản kết luận giám định số 1810/KL-KTHS ngày 10/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, M trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT (ghi thu của Đỗ Minh V) gửi giám định”.

* Về nguồn gốc Methamphetamine thu giữ, Đỗ Minh V khai: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/11/2025, V đi bộ từ nhà đến khu vực phường M, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, V gặp và mua được 01 gói ma tuý của một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, V cầm túi ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà, đến thôn C V, xã B, tỉnh Ninh Bình thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

* Quá trình điều tra Đỗ Minh V đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS-KV6 ngày 07/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình, đã truy tố Đỗ Minh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - N: Giữ nguyên quan điểm một phần truy tố đối với bị cáo; rút một phần truy tố không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt Đỗ Minh V từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng của vụ án.

- Bị cáo Đỗ Minh V đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bản thân vào chiều ngày 05/11/2025 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định việc mua và cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng cá nhân, không có mục đích nào khác. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng, kết luận giám định và lời khai của những người tham gia tố tụng khác cũng như không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì đối với cáo buộc của Viện kiểm sát, bản thân đã nhận thức rõ sai phạm, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát rút một phần truy tố không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xác định rõ bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, bản thân không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên đảm bảo căn cứ chấp nhận.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Minh V tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định về ma tuý và lời khai của người làm chứng, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 05/11/2025, tại thôn C V, xã B, tinh N, Đỗ Minh V đang có hành vi cất giấu trái phép 0,252 (Không phẩy hai trăm năm mươi hai) gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an xã B, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Minh V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến kỉ cương pháp luật, chuẩn mực đạo đức, lối sống, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người đã có gia đình ổn định, có đủ nhận thức về pháp luật nhưng lại thiếu ý thức trong rèn luyện, luôn thể hiện lối sống tự do, buông thả nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù với mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội, đặc biệt là tội phạm về ma tuý trong tình hình hiện nay.

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt (không có tiền án, tiền sự).

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các giai đoạn tố tụng bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ giải phóng và bị nhiễm chất độc hoá học, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình, cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét thấy, cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án nên Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật tố Tụng hình sự

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh, tình hình kinh tế và mục đích phạm tội của bị cáo nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Số Methamphetamine thu giữ của bị cáo cùng bao gói hoàn trả sau giám định của Phòng K Công an tỉnh N, đây là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy (Methamphetamine) cho Đỗ Minh V, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, cũng như không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh, diều tra làm rõ để xử lý đối tượng này theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, quá trình điều tra đã xác định Đỗ Minh V dương tính với chất ma tuý, do ngày 04/11/2025 V đã sử dụng ma túy tại nhà ở của mình tại thôn C V, xã B. Căn cứ vào nhân thân cũng như quy định của pháp luật xác định Đỗ Minh V không phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự; Công an xã B, tỉnh Ninh Bình đã tiến hành xử phạt hành chính đối với Đỗ Minh V về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là phù hợp pháp luật. Do đó, HĐXX không đề cập

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Minh V 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2025.

[2] Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì niêm phong số: 1808/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” của Phòng K Công an tỉnh N.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản bàn giao vật chứng lập ngày 09/01/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình)

[3] Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Minh V phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ