- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc H - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2026/HS-ST Ngày: 31/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phê
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thôi
2. Ông Trịnh Ngọc Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Kiều - Thư ký viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Trương Phạm Duy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2026/TLST-HS ngày 05/3/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2026/QĐXXST-HS ngày 19/3/2026 đối với bị cáo:
Trần Quốc H; Tên gọi khác: Hòa Bê L, sinh ngày 12/5/1970 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: số B đường N, khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long; căn cước công dân số: 083070014814; trình độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Diễm K, sinh năm 1972, bị cáo có 01 người con sinh năm 1993.
- Tiền án, tiền sự: không.
- Về nhân thân:
Quyết định Số 76/UB-QĐ ngày 23/5/1986 của Ủy ban nhân dân thị xã B về việc cưỡng bức lao động tập trung đối với Trần Quốc H, thời hạn 06 tháng, về hành vi “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”.
Quyết định Số 1393/QĐ-UBND ngày 26/10/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố B về việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Quốc H thời hạn 24 (hai mươi bốn) tháng (chấp hành xong ngày 03/11/2011).
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm Số 113/HSST ngày 24/9/2002 Trần Quốc H bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long, xử phạt Trần Quốc H 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chấp hành xong bản án ngày 27/9/2008)
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm Số 32/2014/HSST ngày 06/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bến tre (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long) xử phạt Trần Quốc H 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong bản án ngày 20/01/2016).
- Bị cáo bị Bắt tạm giữ từ ngày 09/11/2025 và chuyển tạm giam từ ngày 12/11/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Trần Hồng L1, sinh năm 1995; nơi cư trú: số B đường L, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt
- Bà Đặng Thị Kim L2, sinh năm 1993; nơi cư trú: số H, ấp P, xã H, tỉnh Vĩnh Long. Có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Ngô Quang Â, sinh năm 1965; nơi cư trú: số B, khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 35 phút, ngày 08/11/2025, Công an phường S phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiến hành kiểm tra Nhà cho thuê tháng (nhà Không số), ở khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long do bà Đặng Thị Kim L2, sinh năm 1993, ĐKTT: Số H, ấp P, xã H, tỉnh Vĩnh Long làm chủ. Qua kiểm tra phát hiện bị cáo Trần Quốc H là người thuê nhà để ở, có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo H khai nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và còn giấu ma túy trong người, Công an kiểm tra phát hiện ở lưng quần bên trái của bị cáo Trần Quốc H có 01 (một) gói thuốc lá hiệu JET, bên trong có 01 (một) túi ny lon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, được buộc lại bằng dây thun màu vàng, bên trong có: 17 (mười bảy) đoạn ống nhựa màu trắng, sọc trắng, hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn màu trắng, nghi là ma túy; 09 (chín) đoạn ống nhựa màu trắng, sọc trắng, hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn màu trắng, nghi là ma túy và 02 (hai) khối chất rắn màu trắng được gói trong một tờ giấy bạc, nghi là ma túy. Tiếp tục kiểm tra phát hiện trên nền gạch, vị trí cách bị cáo Trần Quốc H đang ngồi 1,3m có 01 (một) hộp giấy, bên trong hộp giấy có 01 hộp nhựa, bên trong hộp nhựa có 01 (một) túi ny lon màu trắng hàn kín bốn phía, bên trong chứa chất màu trắng nghi là ma túy. Bị cáo Trần Quốc H khai nhận chất rắn màu trắng đựng trong 17 (mười bảy) đoạn ống nhựa và 02 (hai) khối chất rắn màu trắng được gói trong một tờ giấy bạc là ma túy, loại Heroine; chất rắn màu trắng đựng trong 09 (chín) đoạn ống nhựa màu trắng, sọc trắng và ma túy trong 01 (một) túi ny lon màu trắng hàn kín bốn phía là Methamphetamine (ma túy đá), bị cáo H cất giấu để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Quốc H.
Thử test chất ma túy trong cơ thể bị cáo Trần Quốc H, kết quả H dương tính với ma túy.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) túi ny lon màu trắng, hàn kín bốn phía, bên trong chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1.
- 01 (một) túi ny lon màu trắng, kích thước 05cm x 8,5cm, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, được buộc lại bằng dây thun màu vàng, bên trong có 26 (hai mươi sáu) đoạn ống nhựa màu trắng, sọc trắng, hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn màu trắng, nghi là ma túy và một tờ giấy bạc kích thước 08cm x 3,7cm, bên trong gói 02 (hai) khối chất rắn màu trắng, không rõ hình dạng, nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2.
- 01 (một) chai nhựa cao 15,5cm, đường kính đáy 5,5cm, có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn ống hút nhựa và 01 (một) nỏ thủy tinh, bên trong rỗng; 01 (một) bật lửa màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M.
- 01 (một) hộp giấy, kích thước 13,5cm x 09cm x 8,5cm.
- 01 (một) hộp nhựa, kích thước 10cm x 07cm x 07cm.
- 01 (một) gói thuốc lá hiệu JET (Bút lục: 01-04, 109-134).
Bị cáo Trần Quốc H khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 07/11/2025, H đến khu vực Bến xe A, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp 01 (một) người phụ nữ tên chị B (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể), hỏi mua 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) ma túy, loại Heroine và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) ma túy, loại Methamphetamine (ma túy đá). Sau khi mua được ma túy, H đem về nhà Không số, ở khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long do H thuê để ở lấy ra một ít ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại bị cáo H cất giấu nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết luận giám định Số 294/2025/KL-KTHS-KV2 ngày 11/11/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận:
1. Chất rắn màu trắng đựng trong 01 (một) túi ny lon được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5998 gam.
2. Chất rắn màu trắng đựng trong 17 (mười bảy) đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,8702 gam.
3. Chất rắn màu trắng đựng trong 09 (chín) đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 gửi giám định không tìm thấy chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, khối lượng 0,2635 gam.
4. 02 (hai) khối chất rắn màu trắng không rõ hình dạng, bên trong 01 tờ giấy bạc được gói lại, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,3093 gam.
H1 lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V mẫu vật sau giám định đã được niêm phong: mẫu chất rắn màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni long được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1: 0,5239 gam; mẫu chất rắn màu trắng đựng trong 17 (mười bảy) đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2: 0,8025 gam; mẫu chất rắn màu trắng đựng trong 09 (chín) đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2: 0,2062 gam; 02 (hai) khối chất rắn màu trắng không rõ hình dạng, bên trong 01 tờ giấy bạc được gói lại, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2: 0,2857 gam.
Tổng khối lượng ma túy, loại Heroine là 1,1795 gam và loại Methamphetamine là 0,5998 gam (Bút lục: 61-62).
Về biện pháp tư pháp
Đối với: mẫu vật ma túy và vỏ bao gói (còn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 (một) hộp giấy, kích thước 13,5cm x 09cm x 8,5cm, 01 (một) hộp nhựa, kích thước 10cm x 07cm x 07cm và 01 (một) gói thuốc lá hiệu JET là công cụ có liên quan đến việc cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) chai nhựa cao 15,5cm, đường kính đáy 5,5cm, có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn ống hút nhựa và 01 (một) nỏ thủy tinh, bên trong rỗng, 01 (một) bật lửa màu trắng là công cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V chuyển theo hồ sơ xử lý hành chính đối với bị cáo Trần Quốc H.
Quá trình điều tra, bị cáo Trần Quốc H đã khai nhận phù hợp với nhau về hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.
Tại Bản cáo trạng số 02/CT-VKSKV5 ngày 03/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:
Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025: xử phạt bị cáo Trần Quốc H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt bổ sung: phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu vật ma túy và vỏ bao gói (còn lại sau giám định) là vật được niêm phong trong phong bì Số 294/2025/M2 có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung T2, Phan Nghĩa T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh V.
- 01 (một) hộp giấy, kích thước 13,5cm x 09cm x 8,5cm.
- 01 (một) hộp nhựa, kích thước 10cm x 07cm x 07cm
- 01 (một) gói thuốc lá hiệu JET.
(Vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5-Vĩnh Long quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/3/2026).
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ 35, phút ngày 08/11/2025, bị cáo Trần Quốc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,1795 gam ma túy, loại Heroine và 0,5998 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V phát hiện lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H tại Nhà cho thuê tháng (nhà Không số), ở khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long.
Bị cáo là người có đủ năng lực nhận biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng cố ý tàng trữ 1,1795 gam ma túy, loại Heroine và 0,5998 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025 là phù hợp.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường của con người, gây tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự nơi bị cáo thực hiện tội phạm, nguyên nhân phát sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo H không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu ngày 23/5/1986 Ủy ban nhân dân Thị xã B ra Quyết định Số 76/UB-QĐ về việc cưỡng bức lao động tập trung đối với Trần Quốc H thời hạn 06 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”; Ngày 26/10/2009 Ủy ban nhân dân thành phố B ra Quyết định Số 1393/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, đối với Trần Quốc H thời hạn 24 (hai mươi bốn) tháng (chấp hành xong ngày 03/11/2011); Ngày 24/9/2002, của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long) xử phạt Trần Quốc H 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án Hình sự sơ thẩm Số 113/HSST (chấp hành xong bản án ngày 27/9/2008). Ngày 06/5/2014 Tòa án nhân dân thành phố Bến tre (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long) xử phạt Trần Quốc H 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án Hình sự sơ thẩm Số 32/2014/HSST (chấp hành xong bản án ngày 20/01/2016). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung, bị cáo H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu vật ma túy và vỏ bao gói (còn lại sau giám định) là vật được niêm phong trong phong bì Số 294/2025/M2 có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung T2, Phan Nghĩa T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh V.
- 01 (một) hộp giấy, kích thước 13,5cm x 09cm x 8,5cm.
- 01 (một) hộp nhựa, kích thước 10cm x 07cm x 07cm
- 01 (một) gói thuốc lá hiệu JET.
Bị cáo H khai mua ma túy của người nữ tên chị B, không rõ họ tên, địa chỉ do không rõ đặc điểm, họ tên, địa chỉ cụ thể và đầy đủ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V chưa xác định được người này là ai, ở đâu. Ngoài lời khai của bị cáo H ra, Cơ quan điều tra không có căn cứ nào khác cho rằng có một Người phụ nữ cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo H nên Cơ quan điều tra chuyển thông tin người phụ nữ này đến Bộ phận nghiệp vụ Công an tỉnh V tiếp tục xác minh, xử lý theo pháp luật.
Bị cáo Trần Quốc H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 08/11/2025 bị Công an tỉnh V thử Test kết quả dương tính. Tuy nhiên, bị cáo Trần Quốc H không thuộc một trong các quy định tại điểm a đến điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ xử lý bị cáo Trần Quốc H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Công an phường S, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng quy định.
Bị cáo Trần Quốc H có hành vi tàng trữ một bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Trần Quốc H chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, chưa bị kết án về tội Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, số lượng dưới 06 đơn vị nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Quốc H về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Hình sự là có cơ sở. Công an phường S, tỉnh Vĩnh Long đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Quốc H là đúng quy định.
Đối với Nguyễn Trần Hồng L1, sau khi Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang đối với bị cáo Trần Quốc H, L1 mới có mặt tại Nhà cho thuê của H thuê ở, L1 không biết bị cáo H có cất giấu ma tuý trong Nhà cho thuê do H thuê ở và L1 không liên quan đến số ma tuý của bị cáo H nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Trần Hồng L1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự với vai trò đồng phạm với H, tội Che giấu tội phạm quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự hoặc tội Không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự.
Đối với Đặng Thị Kim L2 là chủ Nhà cho thuê tháng, khu phố B, phường S, tỉnh Vĩnh Long không bàn bạc, hứa hẹn trước là sẽ cho bị cáo H sử dụng ma túy tại Nhà cho thuê, chị L2 không biết H sử dụng ma túy nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự Đặng Thị Kim L2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự với vai trò đồng phạm với H hoặc tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự, tội Che giấu tội phạm theo quy định tại Điều 389 Bộ luật Hình sự hoặc tội Không tố giác tội phạm theo quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp là phù hợp nên được chấp nhận. Đối với đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo không được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Quốc H 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2025.
2. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu vật ma túy và vỏ bao gói (còn lại sau giám định) là vật được niêm phong trong phong bì Số 294/2025/M2 có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung T2, Phan Nghĩa T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh V.
- 01 (một) hộp giấy, kích thước 13,5cm x 09cm x 8,5cm.
- 01 (một) hộp nhựa, kích thước 10cm x 07cm x 07cm
- 01 (một) gói thuốc lá hiệu JET.
(Vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5-Vĩnh Long quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/3/2026).
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Quốc H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long (1b); - VKSND tỉnh Vĩnh Long (1b); - VKSND KV5-Vĩnh Long (1b); - Cơ quan điều tra CA tỉnh Vĩnh Long (1b); - Cơ quan THAHS CA tỉnh Vĩnh Long (1b); - Phòng THA dân sự KV5-Vĩnh Long (1b); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Vĩnh Long (1b); - UBND P.An Hội, tỉnh Vĩnh Long (1b); - Bị cáo, NCQLNVLQ (3b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (6b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Thị Phê |