- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA Nông Văn A và đồng phạm - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2026/HS-ST Ngày 21-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Ông Quàng Văn Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Duy Hưng.
2. Ông Lường Ngọc Thông.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Đinh Thị Viên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Ngân - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam PY
- Người tiến hành tố tụng:
Kiểm sát viên: Bà Cầm Thị Quỳnh Anh.
- Người tham gia tố tụng khác:
Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Lường Bảo Thanh và ông Mùa A Sáu.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La và điểm cầu thành phần phân trại tạm giam PY xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Nông Văn A (tên gọi khác: không), sinh ngày 21 tháng 6 năm 2004 tại xã PY, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản X, xã PY, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: không; con ông Nông Văn T, sinh năm 1983 và bà Bạc Thị D, sinh năm 1986; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21 tháng 12 năm 2025 đến nay. Có mặt.
2. Hoàng Văn K (tên gọi khác: không), sinh ngày 12 tháng 8 năm 2007 tại xã MB, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản NL, xã PY, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: không; con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1983 và bà Lò Thị D, sinh năm 1988; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21 tháng 12 năm 2025 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 21/12/2025, Hoàng Văn K đến nhà Nông Văn A chơi. Vì biết K biết chỗ mua ma túy nên A đã rủ K cùng nhau đi mua ma túy về để sử dụng. K đồng ý. Sau đó, A điều khiển xe mô tô Exciter, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen - đỏ, biển kiểm soát 36B4 - 685.31 chở K đi lên xã ST, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực bản SN, xã ST thì gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông (cả A và K đều không quen biết) đang đi bộ ở trên đường, A dừng xe và K đi đến gặp người đàn ông này để hỏi mua ma túy. Sau khi người đàn ông đồng ý bán, K bảo A đưa tiền cho K. A lấy 2.000.000đ (Hai triệu đồng) của mình đưa cho K, K cầm tiền rồi đưa toàn bộ số tiền này cho người đàn ông dân tộc Mông. Sau khi nhận tiền, người đàn ông bảo A và K đứng chờ để đi lấy ma túy. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông quay lại, đưa cho K 01 gói ma túy có đặc điểm bên ngoài được gói bằng 02 lớp nilon màu hồng, bên trong chứa 09 viên ma túy hồng phiến và các cục chất màu trắng là ma túy Heroine. K cầm lấy gói ma túy rồi đưa cho A, A cất giấu số ma túy này vào lớp vải trong của mũ bảo hiểm của mình, rồi đội lên đầu và điều khiển xe chở K đi về. Khi đi đến khu vực Đồi Thông thuộc địa phận tiểu khu Mo 1, xã PY thì bị Tổ công tác bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy, 01 xe mô tô và 01 mũ bảo hiểm.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm: 01 gói ma túy, bên ngoài được gói bằng 02 lớp nilon màu hồng, bên trong chứa 09 viên màu hồng và các cục chất màu trắng, nghi là ma túy Methamphetamine và Heroine; 01 xe mô tô Exciter, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen - đỏ, biển kiểm soát 36B4 - 685.31; 01 mũ bảo hiểm thể thao thu giữ của Nông Văn A.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Viện KSND khu vực 5 - Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của A và K. Kết quả: trong gói ma túy bên ngoài được gói bằng 02 lớp nilon màu hồng có chứa:
- 10 cục chất bột màu trắng, nghi là Heroine, có khối lượng là 1,097 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu A1.
- 09 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến có khối lượng là 0,930 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu A2.
Ngày 25/12/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số 90/KL-KTHS, kết luận: Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ ung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,097 gam. Mẫu ký hiệu A2, gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,930 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,097 gam, loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất và 0,930 gam; loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Các mảnh chất bột màu trắng ký hiệu A1, có khối lượng 1,054gam và các mảnh chất bột màu hồng ký hiệu A2 có khối lượng 0,67gam và vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở.
Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, quá trình điều tra, Nông Văn A và Hoàng Văn K còn khai nhận: Ngày 20/12/2025, A sau khi mua được ma tuý với một người công nhân không quen biết ở tỉnh Hưng Yên, đã có hành vi sử dụng trái phép toàn bộ số ma tuý mua được tại khu đất trống thuộc xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên. Đối với Hoàng Văn K, ngày 20/12/2025, sau khi mua được ma tuý với một người đàn ông không quen biết ở tỉnh Hưng Yên, K đi đến một xóm trọ vắng người tại xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên rồi sử dụng trái phép toàn bộ số ma tuý mua được. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành xác minh, ngoài lời khai của các bị cáo ra thì không có căn cứ để mở rộng vụ án. Các bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, do đó hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Ngày 20/12/2025, sau khi mua được ma túy, A và K tự sử dụng ma tuý một mình, do đó không cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã có công văn gửi Công an xã Như Quỳnh, tỉnh Hưng Yên để xử phạt vi phạm hành chính đối với A và K theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKS - KV5 ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La truy tố các bị cáo Nông Văn A, Hoàng Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nông Văn A, Hoàng Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt đối với bị cáo như sau:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn A từ 03 năm 09 tháng tù đến 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
Tịch thu sung nộp Ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô Exciter, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen - đỏ, biển kiểm soát 36B4-685.31.
Tịch thu tiêu hủy: 1,054 gam ma túy Heroine và 0,67 gam chất ma túy Methamphetamine còn lại sau khi giám định và vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở; 01 mũ bảo hiểm thể thao thu giữ của Nông Văn A; 02 mảnh nilon màu hồng, dùng để gói ma túy ban đầu.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra, không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, các bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 30 ngày 21/12/2025 tại khu vực Đồi Thông thuộc bản Mo 1, xã PY, tỉnh Sơn La; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm, cân tịnh trích mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Do muốn có ma túy để sử dụng, ngày 21/12/2025, tại khu vực Đồi Thông thuộc tiểu khu Mo 1, xã PY, tỉnh Sơn La, Nông Văn A và Hoàng Văn K đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,097 gam chất ma túy, loại Heroine và 0,930 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Nông Văn A và Hoàng Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử lý tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, cần cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.
Về đồng phạm: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước. Bị cáo Nông Văn A là người khởi sướng việc đi mua ma túy về sử dụng, chuẩn bị tiền và phương tiện để đi mua ma túy, bị cáo Hoàng Văn K là người cùng đi mua ma túy với A, trực tiếp trao đổi mua bán ma túy. Do đó, cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự để cân nhắc hình phạt phù hợp với vai trò đồng phạm của các bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 1,054 gam ma túy Heroine và 0,67 gam chất ma túy Methamphetamine còn lại sau khi giám định và vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở; 01 mũ bảo hiểm thể thao thu giữ của Nông Văn A đã cũ; 02 mảnh nilon màu hồng, dùng để gói ma túy ban đầu. Xét thấy, là vật thuộc loại Nhà nước cấm, vật không có giá trị và không sử dụng được, do đó cần tịch thu, tiêu hủy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô Exciter, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen - đỏ, biển kiểm soát 36B4-685.31. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe này là tài sản của bị cáo Nông Văn A đã mua lại của anh Phạm Văn K cư trú tại phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký sang tên, bị cáo đã sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội, do đó cần tịch thu sung nộp vào ngân sách Nhà nước, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, bản thân không có tài sản riêng có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với nguồn gốc số ma túy, các bị cáo đã mua của người đàn ông vào ngày 21/12/2025 tại bản SN, xã ST, các bị cáo chỉ gặp lần đầu, không quen biết, không rõ họ tên. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành xác minh, ngoài lời khai của các bị cáo ra thì không có căn cứ để mở rộng vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập đến việc xử lý.
Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, do vậy các bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nông Văn A và Hoàng Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nông Văn A 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2025.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 1,054 gam Heroine và 0,67 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định và vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở; 01 mũ bảo hiểm thể thao thu giữ của Nông Văn A; 02 mảnh nilon màu hồng.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô Exciter, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đen - đỏ, biển kiểm soát 36B4-685.31.
( Chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của vụ án giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Nông Văn A, Hoàng Văn K.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (21/5/2026).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 5 - Sơn La; - Phòng THADS khu vực 5 - Sơn La; - Phòng HSNV CA tỉnh Sơn La; - Phân trại tạm giam PY; - Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La; - THAHS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Quàng Văn Thủy |