vanban.org

Bản án 40/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc A, Trương Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về điều luật áp d ng và h nh phạt: 1 Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật sự sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng t . Thời hạn ch p hành h nh phạt tính từ ngày bắt quả tang, tạm gi , tạm giam 26/8/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc A, Trương Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc A, Trương Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tụng h nh sự; Điều 47 Bộ luật sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU V C 1-ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2026/HS-ST
Ngày 12/02/2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU V C 1 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: ng B i Ngọc Thảo và bà Phạm Thị Tuyết Nhung.

- Thư ký phiên toà: ng Nguyễn Đ nh Phan - Thư ý Toà án nhân dân hu vực 1- Đắ Lắ .

- Đ i di n Vi n ki m s t nh n d n khu v c - Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Hoàng Xuân Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2026, tại ph ng xử án D, trụ sở T a án nhân dân hu vực 1- Đắ Lắ xét xử sơ thẩm công hai vụ án h nh sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2026/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Ngọc A; Tên gọi hác: Không; Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1990; tại: Tỉnh Hưng Yên.

Nơi cư trú: Thôn A, xã B, tỉnh Hưng Yên. ch ở trước hi phạm tội: Số B H, phường B, tỉnh Đắ Lắ ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ học v n: 09/12; con Lê Hồng M (đã chết); họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên Trịnh Thị Lan H, sinh năm 1994. Bị cáo chưa có con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 23 tháng 11 năm 2007, Lê Ngọc A thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị Công an huyện K, tỉnh Gia Lai lập hồ sơ đưa vào Trường G – Bộ C1 trong thời gian 24 tháng. Ngày 21 tháng 10 năm 2010 ch p hành xong.

Bi cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm gi , tạm giam tại Phân trại tạm giam Buôn Ma T1, ể từ ngày 26 tháng 8 năm 2025 đến nay – mặt.

2. Họ và tên: Trƣơng Ngọc P; Tên gọi hác: Không; Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1988; tại: Thành phố Đà Nẵng.

Nơi cư trú: Thôn H, xã S, thành phố Đà Nẵng; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ học v n: 10/12; con ông K rõ; họ và tên mẹ: Võ Thị T2 (đã chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Phương T3, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và có 01 người con, sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 05 tháng 6 năm 2020 bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam, xử phạt vi phạm hành chính, bằng h nh thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”, tại Quyết định số 12/QĐ-XPHC (đã ch p hành xong).

- Ngày 25 tháng 6 năm 2020 bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam, xử phạt vi phạm hành chính, bằng h nh thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”, tại Quyết định số 04/QĐ-XPHC (đã ch p hành xong).

- Ngày 01 tháng 10 năm 2020 thực hiện hành vi Sử dụng trái phép ch t ma túy, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam lập hồ sơ đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Khi đang ch p hành th bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q ra Quyết định hởi tố vụ án h nh sự, Quyết định hởi tố bị can, về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 02 tháng 02 năm 2021, bị T a án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 24 tháng t , về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án h nh sự sơ thẩm số 10/2021/HS-ST. Ngày 26 tháng 7 năm 2022 ch p hành xong (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm gi , tạm giam tại Phân trại tạm giam Buôn Ma T1, ể từ ngày 26 tháng 8 năm 2025 đến nay – mặt.

- Ngư i ào chữa cho cáo Lê Ngọc A: Ông Trịnh Quốc K1, sinh năm 1962-luật sư văn ph ng L đoàn luật sưu tỉnh Lâm Đồng.

Địa chỉ: Thôn B, xã T, tỉnh Lâm Đồng.

- Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lưu Thị Cẩm N; Trú tại C Y, phường T, tỉnh Đắ Lắ (Vắng mặt).

+ Bà Trịnh Thị Lan H, sinh năm 1994; Trú tại: Số G N, phường T, tỉnh Đắ Lắ (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Ngọc A và Trương Ngọc P có mối quan hệ bạn bè và đều là đối tượng nghiện ma túy, loại Heroine.

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 26 tháng 8 năm 2025, Trương Ngọc P đón xe buýt từ xã Q, tỉnh Đắ Lắ đi đến phường T, tỉnh Đắ Lắ để t m mua ma túy, loại Heroin để sử dụng. Đến hoảng 05 giờ 45 phút c ng ngày xe buýt đến Trạm xe buýt trước Siêu thị C2 trên đường N, phường T, tỉnh Đắ Lắ , thì P xuống xe và đi bộ đến hu vực đầu đường Đ, phường T, tỉnh Đắ Lắ . Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 26 tháng 8 năm 2025 Lê Ngọc A điều hiển xe mô tô, nhãn hiệu SYM, iểu dáng Angela, màu sơn trắng – đỏ, biển iểm soát 48AB-074.43 đi đến hu vực đường Y, phường T, tỉnh Đắ Lắ để mua ma túy, loại Heroine về để sử dụng. Khi A đi đến đầu đường Đ th gặp P tại đây. Do Anh có số tiền 200.000 đồng nên đã rủ P góp tiền mua ma túy về sử dụng chung, th P đồng ý, rồi P đưa cho Anh 300.000 đồng. Sau đó, A điều hiển xe mô tô chở P ngồi sau đi đến đầu hẻm S đường Y. Khi đến th P xuống xe, c n Anh tiếp tục điều hiển xe mô tô chạy đến số nhà C Y, phường T, tỉnh Đắ Lắ gặp một người phụ n tên “D” và đưa số tiền 500.000 đồng để mua 01 (một) gói ma túy, loại Heroine. Sau hi mua được ma túy, th A cầm gói ma tuý chạy ra ngoài để đón P. Khi đến trước nhà số D đường Y, phường T, tỉnh Đắ Lắ , thì A và P bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.

Kết quả xét nghiệm ch t ma tuý ngày 26 tháng 8 năm 2025 tại Bệnh viện Đ1, tỉnh Đắ Lắ , ết luận: Lê Ngọc A, Trương Ngọc P dương tính với ma túy, loại Amphetamine (AMP).

Tại Kết luận giám định số 353/KL-KTHS ngày 02 tháng 9 năm 2025 của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ ết luận: “Ch t rắn màu trắng bên trong 01 (một) gói nylon, được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có hối lượng 0,2704 gam, loại Heroine (H), có tên hoa học là D1, được quy định tại Bộ luật H nh sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ch t ma túy và tiền ch t.

Cáo trạng số: 78/CT-VKS-KV1 ngày 16 tháng 01 năm 2026 của Viện iểm sát nhân dân hu vực 1 – Đắ Lắ truy tố các bị cáo Lê Ngọc A, Trương Ngọc P về tội “Tàng tr trái phép ch t ma túy”, theo quy định tại điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật H nh sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên t a, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với diễn biến sự việc mà Viện iểm sát đã truy tố.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên t a gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Qua phân tích, đánh giá tính ch t, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đồng thời đề cập các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự cho các bị cáo, đề nghị HĐXX:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Ngọc A, Trương Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51 BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc A mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm t . Thời hạn ch p hành h nh phạt tính từ ngày tạm gi , tạm giam.

Xử phạt bị cáo Trương Ngọc P mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm t . Thời hạn ch p hành h nh phạt tính từ ngày tạm gi , tạm giam.

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: loại Heroine c n lại sau giám định có hối lượng 0,2560 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong phong bì.

Trả lại cho Lê Ngọc A 01 (một) điện thoại di dộng iểu dáng XIAOMI Redmi Note 12, màu sơn xanh, gắn sim số 0334411456, số IMEI1: 865480067380186, số IMEI2: 86540067380194, đã qua sử dụng nhưng tiếp tục tạm gi để đảm bảo công tác thi hành án.

Ch p nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại ANGELA, màu sơn trắng – đỏ, biển số:

48AB-074.43,

số

máy:

VMSE1B-D103637,

số

hung: RLGMD05CMKD103637 đã qua sử dụng cho bà Trịnh Thị Lan H.

Người bào ch a cho bị cáo Lê Ngọc A tr nh bày quan điểm: Hành vi của bị cáo c u thành tội “Tàng tr trái phép ch t ma tuý” theo quy định tại điểm c hoản 1 Điều 249 của Bộ luật h nh sự năm 2025 là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, đối với đề nghị về h nh phạt của đại diện Viện iểm sát có phần nghiêm hắc v bản thân bị cáo đã ăn năn hối cải, thành hẩn hai báo, gia đ nh có hoàn cảnh hó hăn là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 BLHS. Từ nh ng phân tích nêu trên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án th p nh t dưới hung h nh phạt để cho bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, thể hiện tích nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Đại diện viện iểm sát tranh luận: Viện iểm sát đã đánh giá tính ch t mức độ phạm tội của bị cáo và áp dụng đủ các t nh tiết giảm nhẹ cho bị cáo nên gi nguyên quan điểm đề nghị HĐXX xem xét.

Các bị cáo hông tranh luận g thêm và nói lời nói sau c ng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ h nh phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, T a án nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, theo quy định của Bộ luật tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra, bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng hác hông có ý iến g và hiếu nại về hành vi của nh ng người tiến hành tố tụng, quyết định của quan tiến hành tố tụng.

Xét lời hai của các bị cáo tại phiên t a cơ bản ph hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua đó có đủ căn cứ ết luận: Vào ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trước số nhà D đường Y, buôn P, phường T, tỉnh Đắ Lắ , trong khi Lê Ngọc A và Trương Ngọc P đang tàng tr trái phép 0,2704 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, th bị Công an phường T, tỉnh Đắ Lắ phát hiện bắt quả tang.

Các bị cáo bị Viện iểm sát nhân dân hu vực 1 – Đắ Lắ truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c hoản 1 Điều 249 BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có căn cứ pháp luật.

Đi m c khoản 1 Điều 249 ộ luật H nh sự, s a đ i, sung n m 2 2 quy định:

“1. Ngư i nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua án, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trư ng hợp sau đây, thì phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

……………………..

c) Heroine, C, M1, A1, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Xét tính ch t, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo có đủ năng lực hành vi để nhận thức được ma túy là ch t gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng cho sức hoẻ con người, đẩy nhanh tốc độ lây truyền căn bệnh thế HIV/AIDS và éo theo nhiều tệ nạn xã hội hác hơn n a c n xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với ch t ma túy, nên cần áp dụng mức h nh phạt nghiêm tương ứng với tính ch t, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, ph ng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.

Trong vụ án các bị cáo tham gia với vai tr đồng phạm c ng thực hiện hành vi phạm tội như c ng góp tiền và c ng đi mua ma túy; Các bị cáo đều có nhân thân x u nhưng hông l y đó làm bài học inh nghiệm mà c n tiếp tục phạm tội, nên cần áp dụng mức h nh phạt cho các bị cáo ngang bằng nhau là ph hợp.

Về t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự: Không.

Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Quá tr nh điều tra và tại phiên t a các bị cáo thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 BLHS; để giảm nhẹ một phần h nh phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách hoan hồng của pháp luật Nhà nước ta như đề nghị của đại diện Viện iểm sát là ph hợp.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tụng h nh sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật c n lại sau giám định ma túy loại Heroine có hối lượng 0,2560 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong phong b .

- Quá tr nh điều tra xác định điện thoại di dộng iểu dáng XIAOMI Redmi Note 12, màu sơn xanh, gắn sim số 0334411456, số IMEI1: 865480067380186, số IMEI2: 86540067380194, là tài sản thuộc quyền sở h u hợp pháp của bị cáo Lê Ngọc A hông liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Ngọc A, nhưng tiếp tục tạm gi để đảm bảo công tác thi hành án.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại ANGELA, màu sơn trắng – đỏ, biển số: 48AB-074.43, số máy: VMSE1B-D103637, số hung: RLGMD05CMKD103637 đã qua sử dụng, mà bị can Lê Ngọc A đã sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy. Quá tr nh điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản thuộc quyền sở h u hợp pháp của bà Trịnh Thị Lan H (vợ của Lê Ngọc A). Bà H hông biết việc Lê Ngọc A đã sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Trần Thị Lan H1 nhận quản lý, sử dụng là ph hợp.

Nội dung hác:

Trong vụ án này, đối với nguồn gốc số ma túy mà bị cáo Lê Ngọc A đã mua và tàng tr : Anh hai Lưu Thị Cẩm N, trú tại C Y, phường T, tỉnh Đắ Lắ , là người đã bán ma túy cho Anh vào ngày 26 tháng 8 năm 2025. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã thi hành Lệnh hám xét hẩn c p ch ở của bà Lưu Thị Cẩm N, nhưng hông thu gi được đồ vật, tài liệu g có liên quan. Tiến hành đối ch t gi a Lê Ngọc A với Lưu Thị Cẩm N, ết quả: N hai nhận hông biết Lê Ngọc A là ai, N chưa từng gặp Lê Ngọc A một lần nào, vào ngày 26 tháng 8 năm 2025 N hông gặp và hông bán ma túy cho Lê Ngọc A. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh hác, nhưng đến nay chưa có đủ căn cứ để xác định vai tr của Lưu Thị Cẩm N trong vụ án, nên đã tách hành vi của người bán trái phép ch t ma túy ra hỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ, xử lý sau là ph hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép ch t ma tuý của Lê Ngọc A, Trương Ngọc P, Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, theo quy định tại hoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ là ph hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc A, Trương Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về điều luật áp d ng và h nh phạt:

2.1 Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật sự sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng t . Thời hạn ch p hành h nh phạt tính từ ngày bắt quả tang, tạm gi , tạm giam 26/8/2025.

2.2 Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật sự sửa đổi, bổ sung năm 2025: Xử phạt bị cáo Trương Ngọc P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng t . Thời hạn ch p hành h nh phạt tính từ ngày bắt quả tang, tạm gi , tạm giam 26/8/2025.

3. Về x lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật sự, Điều 106 Bộ luật tụng h nh sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy loại Heroin c n lại sau giám định có hối lượng 0,2560 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong phong b ghi "Mẫu vật c n lại sau giám định vụ Lê Ngọc A", có các ch ý, ghi tên Hàn Văn Đ Nguyễn Bá H2 và đóng d u tr n đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ.

- Trả lại cho bị cáo Ngọc A 01 (Một) ĐTDĐ iểu dáng XIAOMI Redmi Note 12, màu sơn xanh, gắn sim số 0334411456, số IMEII: 865480067380186, số IMEI2: 86540067380194, đã qua sử dụng nhưng tiếp tục tạm gi để đảm bảo công tác thi hành án.

(Như iên ản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan sát điều tra Công an tỉnh Đ và ph ng Thi hành án dân s khu v c 1 - Đ k L k ngày 20 01 202 .

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí T a án.

Buộc m i bị cáo Lê Ngọc A, Trương Ngọc P phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí h nh sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm các bị cáo và người có quyền lợi ngh a vụ liên quan có mặt tại phiên t a được quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày ể từ hi tuyên án.

Người có quyền lợi ngh a vụ liên quan vắng mặt tại phiên t a được quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày ể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ