- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị Y - Lò Thị D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị Y được ly hôn anh Lò Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2026/HNGĐ -ST Ngày 14-5-2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Thành và ông Quàng Văn Tiện
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 92/2026/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2026 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2026/QĐST - HNGĐ ngày 09/4/2026và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2026/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2026giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lò Thị Y, sinh năm 1990, địa chỉ: Bản H, xã C, tỉnh Sơn La, vắng mặt có lý do.
Bị đơn: Anh Lò Văn D, sinh năm 1988, địa chỉ: Bản H, xã C, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lò Thị Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lò Văn D qua thời gian tìm hiểu, quen biết nhau, yêu thương nhau đã đăng ký kết hôn tại UBND Chiềng Khương, tỉnh Sơn La vào ngày 28/3/2008. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được 10 năm thì nảy sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau. Anh chị đã nhiều lần được gia đình 2 bên khuyên răn, nhắc nhở nhưng trong cuộc sống vợ chồng vẫn thường xuyên sảy ra cãi vã và không thể hòa hợp với nhau. Anh chị đã sống ly thân 04 năm, không còn yêu thương quan tâm đến nhau. Do vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lò Văn D.
Về con chung: Trong quá trình sinh sống vợ chồng chị có 02 con chung là: cháu Lò Thị Uyên N, sinh ngày 10/6/2011 và cháu Lò Đức C, sinh ngày 24/5/2015. Trong thời gian chị sống ly thân các cháu sống với chị tại bản Huổi Mo, xã C, tỉnh Sơn La.
Nếu ly hôn chị Lò Thị Y nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu, chưa yêu cầu anh Lò Văn D phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lò Văn D không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không viết bản tự khai theo yêu cầu của Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc thụ lý xây dựng hồ sơ vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hội đồng xét xử tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm xét xử đều thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Chị Lò Thị Y có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Lò Văn D vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tống đạt hợp lệ, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Xử cho chị Lò Thị Y được ly hôn anh Lò Văn D. Giao các cháu Lò Thị Uyên N, sinh ngày 10/6/2011 và cháu Lò Đức C, sinh ngày 24/5/2015 cho chị Lò Thị Y trực trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; anh Lò Văn D chưa phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lò Thị Y chưa yêu cầu. Về tài sản chung, tài sản riêng: không yêu cầu; về nợ chung: không có. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị Y.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lò Thị Y yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lò Văn D có địa chỉ tại Bản H, xã C, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số .
Về thủ tục hoà giải: Nguyên đơn có đơn đề nghị không hoà giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lò Thị Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn D được triệu tập hợp lệ vẫn cố tình không đến Tòa án căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử. Anh Lò Văn D không đến Tòa án theo triệu tập, không đưa ra chứng cứ để chứng minh, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã được thu thập theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Lò Văn D phải chịu hậu quả pháp lý về việc không chứng minh theo quy định của pháp luật. [2] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của chị Lò Thị Y phù hợp với kết quả xác minh và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để xác định anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, tỉnh Sơn La. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc nên hôn nhân giữa chị Lò Thị Y và anh Lò Văn D là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ theo khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tình trạng hôn nhân, nguyên đơn chị Lò Thị Y khai: Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do không hợp nhau, không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Anh chị đã nhiều lần được gia đình 2 bên khuyên răn, nhắc nhở nhưng trong cuộc sống vợ chồng vẫn thường xuyên sảy ra cãi vã và không thể hòa hợp với nhau. Anh chị đã sống ly thân một thời gian, không còn yêu thương quan tâm đến nhau nữa. Mặt khác, chị Lò Thị Y cương quyết yêu cầu ly hôn đã chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Thị Y và anh Lò Văn D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu, cho chị Lò Thị Y được ly hôn anh Lò Văn D.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Lò Thị Uyên N, sinh ngày 10/6/2011 và cháu Lò Đức C, sinh ngày 24/5/2015. Trong thời gian anh chị sống ly thân các cháu ở mẹ, được ăn học, chăm sóc đầy đủ. Tòa án đã tiến hành ghi ý kiến, cả 02 cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy để đảm bảo cuộc sống về mọi mặt của người chưa thành niên, đảm bảo cuộc sống ổn định không xáo trộn, căn cứ vào thực tiễn của cuộc sống và xem xét nguyện vọng của chị Lò Thị Y và ý kiến của con chung trên 07 tuổi. Chấp nhận ý kiến của chị Lò Thị Y: Giao các cháu Lò Thị Uyên N, sinh ngày 10/6/2011 và cháu Lò Đức C, sinh ngày 24/5/2015 cho Lò Thị Y trực trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Lò Văn D chưa phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lò Thị Y chưa yêu cầu.
Về tài sản chung: Chị Lò Thị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Lò Văn D vắng mặt không cung cấp lời khai. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị Lò Thị Y xác nhận không có. Anh Lò Văn D vắng mặt không cung cấp lời khai. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Lò Thị Y là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn yêu cầu miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm nên cần chấp nhận theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1, khoản 4 Điều 91; Điều 186, Điều 188; khoản 4 Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số . Căn cứ khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 56; 57; 58; 81; 82; 83; 84; khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị Y được ly hôn anh Lò Văn D.
2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Lò Thị Uyên N, sinh ngày 10/6/2011 và cháu Lò Đức C, sinh ngày 24/5/2015
Giao các cháu Lò Thị Uyên N, sinh ngày 10/6/2011 và cháu Lò Đức C, sinh ngày 24/5/2015 cho chị Lò Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh Lò Văn D chưa phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung do chị Lò Thị Y chưa yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị Y.
6. Về quyền kháng cáo: Anh Lò Văn D, chị Lò Thị Y được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 3 – Sơn La; - Phòng THADS khu vực 3 - Sơn La; - UBND xã Chiềng Khương; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mai |