- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Văn T - Ánh V Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn TH về việc “Ly hôn; Tranh chấp nuôi con” với bà Nguyễn Thị Ánh V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2026/HNGĐ-ST Ngày 10 tháng 4 năm 2026 Về việc: “Ly hôn; Tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Bá Lộc
Bà Trần Thị Mộng Thu
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao Thiên, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khuê - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 101/2025/TLST-HNGĐ ngày 20-10-2025 về việc “Ly hôn; Tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06-3-2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2026/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Võ Văn TH, sinh năm 1998. Địa chỉ: 7 Ô 4/9, ấp H, xã P, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh V, sinh năm 2000. Địa chỉ: Tổ 6, T, xã Đ, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các bản khai, nguyên đơn ông Võ Văn TH trình bày:
Ông TH và bà V tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là UBND xã Đất Đỏ, thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 29 tháng 5 năm 2023 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không còn tình cảm, không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Nay ông TH nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông TH yêu cầu được ly hôn với bà V.
Về con chung: Ông V xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên Võ Nguyễn Diệu Linh, sinh ngày 14/11/2023, hiện cháu đang sống chung với bà V. Khi ly hôn, ông TH đồng ý để bà V tiếp tục nuôi con, ông TH cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu Linh trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh V vắng mặt và không cung cấp ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn TH.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh V mặc dù được Tòa triệu tập hợp lệ tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, đã vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Ông Võ Văn TH và bà Nguyễn Thị Ánh V tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 29/5/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Ủy ban nhân dân xã Đất Đỏ, thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không còn tình cảm, bất đồng quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn cãi vả. Quá trình giải quyết vụ án bà V không có mặt theo triệu tập của Tòa và không gửi văn bản trình bày ý kiến của bà V về yêu cầu khởi kiện của ông TH. Xét thấy, ông TH và bà V không còn tình cảm, không tìm được tiếng nói chung và không cùng nhau san sẻ các vấn đề trong cuộc sống gia đình. Từ đó cho thấy giữa ông TH và bà V đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn TH và bà Nguyễn Thị Ánh V.
Về con chung: Ông TH và bà V có 01 người con chung tên Võ Nguyễn Diệu Linh, sinh ngày 14/11/2023, hiện cháu đang sống chung với bà V. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Linh cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông TH tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu Linh trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Ông Võ Văn TH phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Võ Văn TH khởi kiện yêu cầu được ly hôn và giải quyết về con chung với bà Nguyễn Thị Ánh V, vì vậy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án về “Ly hôn; Tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ánh V có hộ khẩu thường trú tại tổ 6, ấp Thanh An, xã Đất Đỏ, thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông TH có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn mặc dù được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại các phiên tòa đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Võ Văn TH và bà Nguyễn Thị Ánh V.
2. Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Ông Võ Văn TH và bà Nguyễn Thị Ánh V tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau. Năm 2023, ông bà chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 29/5/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (nay là Ủy ban nhân dân xã Đất Đỏ, thành phố Hồ Chí Minh). Vì vậy, hôn nhân giữa ông TH và bà V hình thành cơ sở tình yêu tự nguyện, được tự do tìm hiểu, không bị ai lừa dối hay ép buộc, quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà sống chung với nhau tại nhà riêng. Thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc, sau đó ông bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà không còn tình cảm, bất đồng quan điểm và không thể hàn gắn được. Tại đơn khởi kiện và bản khai, nguyên đơn ông TH xác định hiện nay vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Vì vậy ông TH khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh V.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ tài liệu, cùng lời khai của nguyên đơn, lời khác của các con, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân của ông TH và bà V là hợp pháp, dựa trên nền tảng tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đất Đỏ, thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng ông bà sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo như ông TH trình bày là vợ chồng không còn tình cảm, bất đồng quan điểm không thể hàn gắn được.
Từ những phân tích trên, đủ cơ sở khẳng định tình trạng hôn nhân giữa ông TH và bà V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho ông TH được ly hôn với bà V theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.
2.2 Về con chung: Ông TH và bà V có 01 người con chung tên Võ Nguyễn Diệu Linh, sinh ngày 14/11/2023, hiện cháu đang sống chung với bà V.
Xét thấy, cháu Võ Nguyễn Diệu Linh chưa đủ 36 tháng tuổi mặc nhiên sẽ được mẹ chăm nom, nuôi dưỡng khi có đủ điều kiện. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay cháu Linh đang sống với bà V, và bà V đáp ứng đủ các điều kiện để tiếp tục nuôi con. Mặt khác, ông TH có yêu cầu khởi kiện về con chung vẫn giao cho bà V nuôi dưỡng, vì vậy Hội đồng xét xử thống nhất tiếp tục giao cháu Võ Nguyễn Diệu Linh cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, ông TH đồng ý cấp dưỡng nuôi con với mức 1.000.000đồng/tháng là phù hợp nên được chấp nhận.
2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.4. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
3. Về án phí: Ông Võ Văn TH phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn TH về việc “Ly hôn; Tranh chấp nuôi con” với bà Nguyễn Thị Ánh V.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Văn TH được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ánh V.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Võ Nguyễn Diệu Linh, sinh ngày 14/11/2023 cho bà Nguyễn Thị Ánh V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, ông Võ Văn TH có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu Linh trưởng thành.
Ông Võ Văn TH có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Ông Võ Văn TH phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0028182 ngày 20-10-2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Văn TH đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Ông Võ Văn TH và bà Nguyễn Thị Ánh V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Khu vực 13, Tp. HCM; - Phòng THADS. KV13, TP. HCM; - UBND xã Đất Đỏ; - Tòa án Tp.HCM; - VKSND Tp.HCM; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Na |