- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? luật hình sự; Điều 106; Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, t…
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2025/HSST Ngày: 15 tháng 8 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Cẩm Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trọng Điệp
2. Bà Hoàng Thùy Linh
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Huy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 1, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai hình tại điểm cầu phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân khu vực 1, thành phố Hà Nội. Vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TL - HSST ngày 14 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Bị cáo: Lý Đức T, sinh năm 2005; ĐKNKTT: Khe Thuyền A, xã V, huyện
S, tỉnh T (nay là: Khe Thuyền A, xã H, tỉnh T); Nơi ở hiện tại: Số A Hẻm B đường T, phường D, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (nay là: Số A Hẻm B đường T phường C, thành phố Hà Nội); Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tôn giáo: không; Họ tên bố: Không xác định; Họ tên mẹ: Lý Thị Đ; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt ngày bắt: ngày 19/1/2025; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19 tháng 01 năm 2025, tổ công tác công an phư
ờng H (nay là phường H) trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Lý Đức T điều khiển xe máy Honda Wave, màu đen trắng, BKS 22S1 - xxx.xx đang đứng trước số A ngõ T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường H, thành phố Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện lấy từ bên túi áo khoác bên trái 01 lọ nhựa chứa chất lỏng màu trắng đục giao nộp cho tổ công tác và khai nhận chất lỏng màu trắng là ma túy mang đi bán cho khách để lấy tiền công. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong tang vật và đưa T về trụ sở công an phường H (nay là phường H) để giải quyết.
* Vật chứng thu giữ của Lý Đức T:
- 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen, dung lượng 64GB, kèm sim số
0354125035 (kiểm tra điện thoại có tin nhắn liên quan đến ma túy);
- 01 lọ nhựa có chứa chất lỏng màu trắng đục;
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen trắng, mang biển kiểm soát
22S1 - xxxxx, số khung: 011594, số máy: 0031383;
- Tang vật thu giữ khi kiểm tra nơi ở của bị cáo: 01 lọ nhựa nắp trắng chứa
chất lỏng màu trắng đục và 01 lọ nhựa nắp màu đen chứa chất lỏng màu trắng đục.
Tại Bản kết luận giám định số 1060/KL- KTHS ngày 28/01/2025 của Phòng
Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất lỏng màu trắng đục bên trong 01 lọ nhựa có ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - 4en
- PINACA, thể tích 04ml.
Tại Bản kết luận giám định số 1079/KL- KTHS ngày 30/01/2025 của Phòng
Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất lỏng màu trắng đục bên trong 01 lọ nhựa nắp đen và 01 lọ nhựa nắp trắng đều có ma túy loại MDMB - 4en - PINACA và ma túy loại MDMB - INACA, tổng thể tích là 06ml.
Tại Bản kết luận giám định số 1174/ ngày 27/02/2025 của Viện Khoa học
hình sự - Bộ Công an kết luận:
- Mẫu có trong phong bì chứa 01 lọ nhựa chứa chất lỏng màu trắng đục có
thể tích 3ml: có nồng độ chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 8,6mg/ml; khối lượng 25,8mg;
- Mẫu có trong 01 hộp giấy chứa 01 lọ nhựa nắp màu đen và 01 lọ nhựa nắp
màu trắng đều chứa chất lỏng màu trắng đục, tổng thể tích 4ml: có nồng độ chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 7,6mg/ml; khối lượng 30,4 gam;
- Hiện nay Viện khoa học hình sự chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma
túy MDMB - INACA do đó không xác định được hàm lượng (nồng độ), khối lượng chất ma túy MDMB - INACA có trong mẫu gửi giám định.
Chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA thuộc nhóm các chất muối có thể
tồn tại trong ma túy được quy định tại STT 241, - IIC - Danh Mục II - Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất (ma túy khác ở thể rắn). Sau khi phân tích được khối lượng các chất ma túy trong các dung dịch thu giữ, xác định Lý Đức T phải chịu trách nhiệm đối với tổng khối lượng ma túy loại MDMB-4en-PINACA là 0,08 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lý Đức T khai nhận: T quen biết xã hội với một người
đàn ông tên ‘‘T’’ (không biết nhân thân, lai lịch) sử dụng Telegram ‘‘Đức T’’ có số điện thoại 058747xxxx. Ngày 18/01/2025, T gọi cho T qua ứng dụng Telegram để đưa cho T 03 lọ tinh dầu ma túy (CBD) để khi nào có khách mua thì T mang đi giao cho khách hưởng tiền công. Do thiếu tiền trọ và muốn có tiền về quê ăn tết nên T đồng ý. Sau đó, “T” đến đầu ngõ A đường T, phường C, thành phố Hà Nội đưa 03 lọ tinh dầu, T cầm rồi mang về cất giấu tại phòng trọ. Đến khoảng 13 giờ ngày 19/01/2025, T gọi qua Telegram bảo T đi giao 01 lọ tinh dầu chứa ma túy CBD cho khách (sử dụng số điện thoại 058410xxxx) ở ngõ T, phường H, Hà Nội với giá 260.000 đồng. Nếu thành công T được hưởng lợi 60.000 đồng. T đồng ý rồi cầm 01 lọ tinh dầu ma túy CBD, điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng đen, BKS 22S1 – xxx.xx đến ngõ T thì bị tổ công tác CAP H (nay là phường H) kiểm tra, bắt giữ như trên. Đây là lần đầu T giao ma túy cho T, nếu gặp lại sẽ nhận ra T. Ngoài ra, do biết T làm nghề giao hàng nên T còn nhờ T chở hàng thùng bìa các tông giao cho khách với giá 400.000 đồng. Sau khi giao hàng cho khách xong, ngày 18/01/2025, T chuyển khoản trả T 400.000 đồng vào tài khoản số 81682xxxx mang tên Nguyễn Đức T mở tại ngân hàng TMCP Quân Đội. Chiếc xe máy Honda Wave màu trắng đen là của mẹ T là chị Lý Thị Đ, chị Đ không biết T sử dụng xe máy để mua bán ma túy. Không biết nhân thân, lai lịch người mua ma túy. T không nói cho anh Phùng Hoàng P biết về 02 chai tinh dầu ma túy để tại phòng. Tiến hành xét nghiệm, T âm tính với ma túy.
Căn cứ kết quả trả lời của Công ty Cổ phần Viễn thông di động Vietnammobile
xác định: chủ đăng ký số thuê bao 058410xxxx mang tên Nguyễn Đình T (Sinh năm: 1958; Địa chỉ: tổ A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội) và chủ đăng ký số thuê bao 058747xxxx mang tên Trương Trung H (Sinh năm: 1993; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã B, tỉnh Phú Thọ).
Ông Nguyễn Đình T khai: ông T không đăng ký sử dụng số thuê bao
058410xxxx, không cho ai mượn giấy tờ tùy thân. Ông T không quen biết với Lý Đức T. Do đó xác định ông T không liên quan đến vụ án.
Anh Trương Trung H khai: Anh H có đăng ký chính chủ số thuê bao
058747xxxx tuy nhiên không đăng ký tài khoản mạng xã hội Telegram, không quen biết ai là Lý Đức T. Tiến hành cho Lý Đức T nhận dạng qua ảnh xác định anh Trương Trung H không phải đối tượng "Đức T" đã đưa ma túy cho T. Do vậy xác định anh H không liên quan đến vụ án.
Căn cứ công văn số 38 ngày 12/6/2025 của ngân hàng TMCP Quân Đội xác
định chủ đăng ký tài khoản số 81682xxxx mang tên Nguyễn Đức T (Sinh năm: 2001; địa chỉ: Thôn Y, xã H (nay là xã H), thành phố Hà Nội) xác định: ngoài 400.000 đồng T chuyển khoản cho T, T còn 04 lần chuyển khoản cho T vào các ngày 16, 17, 18/01/2025, cụ thể: ngày 16/01/2025 chuyển 250.000 đồng, ngày 17/01/2025 chuyển 130.000 đồng, ngày 18/01/2025 chuyển 02 khoản 200.000 đồng và 800.000 đồng. Ngoài ra, ngày 17/01/2025 T còn chuyển khoản 40.000 đồng vào tài khoản của T. Các giao dịch trên T khai là tiền T trả cho việc ăn uống, đi chơi, không liên quan đến ma túy.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an xã H, huyện C, Hà Nội xác
định: Nguyễn Đức T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn Y, xã H (nay là xã H, thành phố Hà Nội. Từ năm 2017, T cùng mẹ là Nguyễn Thị T (Sinh năm: 1974) lên Hà Nội sinh sống. Hiện không biết T ở đâu, làm gì. Tiến hành cho Lý Đức T nhận dạng qua ảnh xác định T chính là người đã đưa ma túy cho T. Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai của T nên đã tiến hành tách rút tài liệu đối với hành vi của Nguyễn Đức T để tiếp tục xác minh làm rõ.
Tra cứu nguồn gốc chiếc xe máy Honda Wave RXS FI, màu đen trắng, BKS
22S1 - xxx.xx, số khung: RLHJA3814GY011594, số máy JA38E0031383 mang tên Lý Thị Đ (Sinh năm: 1982; Địa chỉ: Khe Thuyền A, xã V, huyện S) là mẹ của Lý Đức T. Chị Đ khai: mua chiếc xe máy trên năm 2016 thường cho T mượn xe để đi lại. Đến ngày 19/01/2025, T mượn xe của chị Đ để đi học. Chị Đ không biết T sử dụng xe máy để mua bán trái phép chất ma túy. Chiếc xe máy không nằm trong dữ liệu xe tang vật. Ngày 18/6/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy Honda Wave RXS FI, màu đen trắng, BKS 22S1 - xxx.xx cho chị Đ.
Đối với anh Phùng Hoàng P (Sinh năm: 2005; Chỗ ở: Số A hẻm B đường T,
phường C, Hà Nội) là bạn cùng phòng với Lý Đức T. Anh P khai 02 lọ nhựa chứa chất lỏng màu trắng đục thu giữ tại phòng là của Lý Đức T. T không nói với anh P về 02 lọ nhựa trên, không biết chất lỏng bên trong là gì. Do vậy xác định anh P không liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng
mua ma túy nên cơ quan điều tra không đủ điều kiện xác minh để làm rõ để xử lý. Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 08 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý, theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị
cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với
bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Đề nghị xử phạt: Lý Đức T mức án từ 24 tháng tù đến 28 tháng tù
Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phòng bì niêm phong, dán kín có hình dấu tròn đỏ của
Viện khoa học hình sự - Bộ công an và chữ ký Phạm Đức Trọng, điều tra viên Nguyễn Huy A và hình dấu của Viện KTHS- Bộ Công an (bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1174 - KTHS); 01 hộp giấy được niêm phong, dán kín các mép có chữ ký của giám định viên Phạm Đức T, điều tra viên Nguyễn Huy A và hình dấu Viện KTHS- Bộ Công an (bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1174 - KTHS).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu đen,
kèm 01 sim, đã qua sử dụng. (Tại thời điểm bàn giao không mở máy được để kiểm tra chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ).
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội,
các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận bào chữa gì về mức án. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an
thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý Đức T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành
vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/01/2025, Lý Đức T đang thực hiện hành vi mang 0,0344 gam ma túy MDMP-4en - PINACA và ma túy MDMB - INACA (không xác định được hàm lượng) nhằm mục đích bán trái phép thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại số A ngõ T, phường H, quận H, Hà Nội (nay là số A ngõ T, phường H, thành phố Hà Nội). Ngoài ra, khám xét tại nơi ở của T tại phòng A nhà số B hẻm C đường T, phường D, quận C, Hà Nội (nay là phường C, thành phố Hà Nội) phát hiện T cất giấu 0,0456 gam ma túy MDMP- 4en- PINACA và ma túy MDMB - INACA (không xác định được hàm lượng) nhằm mục đích bán trái phép chất ma túy; Xét, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3]. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Lý Đức T về tội “Mua bán trái phép chất
ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến
chính sách độc quyền của Nhà Nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV, AIDS. Do ham hưởng lợi bất chính bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật của mình để kiếm tiền. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh.
[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo thành
khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7]. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với các bị cáo.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có
thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[9]. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phòng bì niêm phong, dán kín có hình dấu tròn đỏ của
Viện khoa học hình sự - Bộ công an và chữ ký Phạm Đức T, điều tra viên Nguyễn Huy A và hình dấu của Viện KTHS- Bộ Công an (bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1174 - KTHS); 01 hộp giấy được niêm phong, dán kín các mép có chữ ký của giám định viên Phạm Đức T, điều tra viên Nguyễn Huy A và hình dấu Viện KTHS- Bộ Công an (bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1174 - KTHS).
- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, kèm 01 sim, đã qua sử dụng.
(Tại thời điểm bàn giao không mở máy được để kiểm tra chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ) thu giữ của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[10]. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ
luật hình sự; Điều 106; Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử phạt: Lý Đức T 40 (bốn mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2025.
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phòng bì niêm phong, dán kín có hình dấu tròn đỏ của
Viện khoa học hình sự - Bộ công an và chữ ký Phạm Đức T, điều tra viên Nguyễn Huy A và hình dấu của Viện KTHS- Bộ Công an (bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1174 - KTHS); 01 hộp giấy được niêm phong, dán kín các mép có chữ ký của giám định viên Phạm Đức T, điều tra viên Nguyễn Huy A và hình dấu Viện KTHS- Bộ Công an (bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1174 - KTHS); Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Thành phố Hà Nội theo biên bản bàn giao vật chứng số 25/KV1-2025 ngày 31/7/2025.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu đen,
kèm 01 sim, đã qua sử dụng. (Tại thời điểm bàn giao không mở máy được để kiểm tra chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ); Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Thành phố Hà Nội theo biên bản bàn giao vật chứng số 25/KV1-2025 ngày 31/7/2025.
Án phí: Bị cáo Lý Đức T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí
Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1; - Công an thành phố Hà Nội; - Phòng THA dân sự khu vực 1; - UBND phường C, Hà Nội ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Cẩm Hà |