- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công T, về tội: “Mua bán trái phép chất chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Công T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH QUANG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 04/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Phùng Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đăng Thám.
2. Ông Phạm Đình Hoàng.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Hải Linh – Thư ký TAND huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh An – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 09/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 21/5/2025, đối với các bị cáo sau đây:
1. Nguyễn Công T, sinh ngày: 05/10/1997, tại: Thăng Bình, Quảng Nam.
Địa chỉ: Khu phố 7, thị trấn Hà Lam, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.
Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không;
Con ông: Nguyễn Công S, sinh năm: 1970; Con bà: Trần Thị T1, sinh năm: 1975; V : Châu Thị Hoành N, sinh năm: 1996; bị cáo c 02 con; con lớn sinh năm: 2018, con nh sinh năm: 201 .
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 0 /11/201 , bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 04 năm tù tội Mua bán trái phép chất ma t y tính đến ngày ngày 21/10/2022 Trư ng đ chấp hành xong hình phạt phạt tù, án phí và các khoản tiền tịch thu liên uan.
- Ngày 15/ /201 , bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo vì đ c hành vi Sử dụng trái phép chất ma t y.
Bị bắt tạm giam từ ngày 23/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Thăng Bình, c mặt tại phiên tòa.
2. Lê Tuấn P, sinh ngày: 14/02/1997, tại: Thăng Bình, Quảng Nam.
Nơi cư tr : Khu phố , thị trấn Hà Lam, huyện T, Quảng Nam.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.
Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Th đ ng cốp pha;
Con ông: Lê Văn H (chết) và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1974.
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 05/11/2021, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ, cất giấu trong ngư i các loại dao, công cụ thư ng dùng trong lao động nhằm mục đích gây thương tích cho ngư i khác.
Bị bắt tạm giam từ ngày 23/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Thăng Bình, c mặt tại phiên tòa.
- Ngư i c uyền l i và nghĩa vụ liên uan:
1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1974.
2. Chị Lê Thị Thùy T2, sinh năm: 2005.
Cùng địa chỉ: Khu phố , thị trấn Hà Lam, huyện T, Quảng Nam.
(Bà L và chị T2 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:
L c 13 gi 15 ph t, ngày 23/01/2025, T công tác Công an huyện T phối h p Công an thị trấn Hà Lam, huyện T kiểm tra hành chính hộ gia đình bà Nguyễn Thị L (mẹ của bị cáo P) phát hiện c 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma t y gồm: 01chai nhựa trên nắp chai c đục 02 l tròn gắn 01 đoạn ống nhựa và 01 dụng cụ thủy tinh c một đầu hình phình bầu (còn gọi là n thủy tinh); 01 g i ni lông không màu c tích h p kh a nhựa (dạng t i zip) bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể; 02 bật lửa gas và 01 điện thoại di động hiệu Redmi bên trong gắn sim số 0932.430.028; 01 đoạn ống thủy tinh gấp tạo khuỷu c một đầu phình bầu (n thủy tinh); 01 bật lửa gas c gắn đầu đèn tự chế. Bị cáo Lê Tuấn P khai nhận chất rắn màu trắng dạng tinh thể đựng trong g i ni lông là ma t y đá P mua của bị cáo Nguyễn Công T về để sử dụng.
Cùng ngày, Cơ uan CSĐT Công an huyện T khám xét khẩn cấp ch ở của bị cáo Nguyễn Công T, tại: Khu phố 7, thị trấn Hà Lam, T, đ thu giữ: 03 t i ni lông c tích h p kh a nhựa, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01t i ni lông c tích h p kh a nhựa bên trong c chứa 16 đoạn ống nhựa hàn kín 02 đầu, trong đoạn ống nhựa chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 g i ni lông đư c hàn kín bên trong chứa 01 viên nén; 01 điện thoại di động loại cảm ứng hiệu Redmi note 13 Pro 5G màu đen gắn hai sim số 0347.047.266 và 0 76.370. 74; tiền mặt: 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng); 02 ống h t nhựa; 01 bật lửa; 01cái kẹp y tế bằng kim loại; 01 cái kéo, 01 bình nhựa c nắp đục thủng hai l , một l gắn 01 dụng cụ thủy tinh (bị bể phần phình bầu), một l gắn 01 ống h t nhựa; 01 lọ thủy tinh c nắp bị đục thủng hai l , một l gắn 01 ống thủy tinh; 01 cân điện tử.
Tiến hành Test nhanh ma tuý đối với Nguyễn Công T và Lê Tuấn P kết uả P và T dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.
Tiến hành trưng cầu giám định chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong các t i ni lông và trong các ống nhựa thu giữ của Nguyễn Công T và Lê Tuấn P. Tại Bản kết luận giám định số: 113/KL-KTHS ngày 2 /01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận:
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 t i ni lông không màu c tích h p kh a bấm đ ng kín miệng t i thu giữ của Lê Tuấn P gửi giám định (mẫu ký hiệu A1) là ma t y, loại Methamphetamine. Mẫu ký hiệu A1 c khối lư ng là 0,350 gam.
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 16 đoạn ống nhựa không màu đư c hàn kín và 01 t i ni lông không màu c tích h p kh a bấm đ ng kín miệng t i thu giữ của Nguyễn Công T gửi giám định (mẫu ký hiệu A2) là ma t y, loại Methamphetamine. Mẫu ký hiệu A2 c khối lư ng là 2,15 gam; 01 cục chất rắn màu đ , không rõ hình dạng (giống dạng viên nén) chứa trong 01 g i ni lông màu vàng đư c hàn kín thu giữ của Nguyễn Công T gửi giám định (mẫu ký hiệu A3) là ma t y, loại Methamphetamine. Mẫu kí hiệu A3 c khối lư ng là 0,066 gam; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 g i ni lông không màu đư c hàn kín thu giữ của Nguyễn Công T gửi giám định (mẫu ký hiệu A4) là ma t y, loại Methamphetamine. Mẫu kí hiệu A4 c khối lư ng là 3,103 gam; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 t i ni lông không màu c tích h p kh a bấm đ ng kín miệng t i thu giữ của Nguyễn Công T gửi giám định (mẫu ký hiệu A5) là ma t y, loại Methamphetamine. Mẫu kí hiệu A5 c khối lư ng là , 61 gam. T ng khối lư ng ma tuý thu giữ đư c của Nguyễn Công T là 15,2 gam, loại Methamphetamine.
Nguyễn Công T và Lê Tuấn P khai nhận: Khoảng đầu tháng 01/2025, thông ua mạng x hội acebook, Nguyễn Công T biết tài khoản acebook tên Hảo (không rõ nhân thân lai lịch) c bán ma t y, vì c nhu cầu mua ma t y về bán lại và sử dụng cho bản thân, T sử dụng điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 Pro 5G màu đen, gắn sim số 0347047266 và 0 76370 74 vào ứng dụng Messenger gọi điện liên lạc với tài khoản tên Hảo h i mua 10.000.000 đồng (mư i triệu đồng) ma t y đá thì ngư i c tài khoản tên Hảo đồng ý bán và hẹn T đến khu vực cầu Giao Thủy (huyện Đ, tỉnh Quảng Nam) giao tiền và nhận hàng. Khoảng 15 gi một ngày không nhớ tháng 01/2025, T đi xe ôm (của một ngư i không rõ nhân thân lai lịch) đến nơi hẹn gặp ngư i c tài khoản tên Hảo đưa tiền và nhận hàng ma t y rồi về, đến nhà T phân chia ma t y ra thành nhiều g i nh cất giấu để bán lại kiếm l i và sử dụng cho bản thân. Trong đ từ ngày 1 /01/2025 đến ngày 22/01/2025, T đ 02 lần bán ma t y cho Lê Tuấn P cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 1 gi ngày 1 /01/2025, Lê Tuấn P sử dụng tài khoản zalo c tên Phonghalam của Phong gọi đến tài khoản zalo của Nguyễn Công T h i mua 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) ma t y đá và nh T đem đến nhà cho P (nhà T cách nhà P khoảng 100m) thì T đồng ý, T lấy 01 g i ma t y đá (để trong ống nhựa đư c hàn kín hai đầu) đi bộ đến nhà đưa cho P. Sau khi nhận ma t y P không đưa tiền mặt cho T mà n i với T để P chuyển khoản, xong P cầm g i ma t y cất giữ sử dụng hết một mình. Đến 10 gi 20 ph t ngày 23/01/2025, P sử dụng tài khoản ví MOMO số tài khoản 0 32.430.02 chuyển 300.000 đồng ua tài khoản ví MOMO số tài khoản 0347.047.266 trả tiền mua ma t y cho T.
Lần thứ hai: Khoảng 1 gi 34 ph t ngày 22/01/2025, P sử dụng tài khoản zalo c tên Phonghalam của mình gọi đến tài khoản zalo của Nguyễn Công T h i mua 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) ma t y đá và nh T đem đến nhà cho P. L c này T chụp ảnh g i ma t y đá gửi ua zalo cho P xem trước, sau đ , T đem g i g i ma túy đá đến đưa cho P. Đến 20 gi 20 ph t cùng ngày, P sử dụng tài khoản ví MOMO số tài khoản 0 32.430.02 chuyển số tiền 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) ua tài khoản ví MOMO số tài khoản 0347.0472.66 trả tiền mua ma t y cho T. Số ma t y mua lần này P chưa sử dụng thì bị bắt giữ.
Tại bản cáo trạng số: 3 /CT-VKSTB-HS ngày 05/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam đ truy tố bị cáo Nguyễn Công T, về tội: Mua bán trái phép chất chất ma t y theo uy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Lê Tuấn P, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma t y theo uy định tại điểm c khoản 1 Điều 24 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên Tòa các bị cáo Nguyễn Công T, Lê Tuấn P đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đ truy tố. Bị cáo T khai nhận số ma t y bị bắt tại nhà bị cáo là của bị cáo mua về nhằm mục đích sử dụng và bán lại t ng khối lư ng 15,289 gam. Bị cáo đ 02 lần bán ma t y cho bị cáo Lê Tuấn P số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo P khai mua ma t y về để sử dụng tại nhà. Bị cáo 02 lần mua ma t y của Bị cáo T. Số ma t y bị cáo mua lần sau sử dụng còn lại thì bị phát hiện khối lư ng là 0,350gam. Các bị cáo đ biết l i lầm của mình và trong th i gian bị tạm giam các bị cáo rất hối hận. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. L i khai của các bị cáo phù h p với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên cáo trạng đ truy tố đối với các bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đ phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: Không c ; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong uá trình điều tra, truy tố các bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải với l i lầm của mình, các bị cáo đ rất thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Công T, phạm tội: Mua bán trái phép chất ma t y theo uy định các tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tuyên bị cáo Lê Tuấn P, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma t y theo uy định tại điểm c khoản 1 Điều 24 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.
Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Công T từ 0 năm đến 0 năm 06 tháng tù.
Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Tuấn P từ 30 đến 36 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu sung uỹ 02 điện thoại di động Nguyễn Công T và Lê Tuấn P sử dụng vào việc phạm tội; truy thu của Nguyễn Công T 1.000.000 đồng tiền c đư c từ việc bán trái phép chất ma t y; tịch thu tiêu hủy số ma t y còn lại sau giám định, các dụng cụ mà bị cáo Trư ng, Phong dùng để mua bán, sử dụng trái phép chất ma t y và các sim điện thoại. Tiếp tục tạm giữ của Trư ng số tiền 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng) để đảm bảo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, uyết định tố tụng của Cơ uan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong uá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đ ng về thẩm uyền, trình tự, thủ tục uy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, uyết định của Cơ uan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, uyết định tố tụng của Cơ uan tiến hành tố tụng và ngư i tiến hành tố tụng đ thực hiện trong vụ án đều h p pháp.
Các căn cứ xem xét, đánh giá về tội danh và khung hình phạt:
- Căn cứ vào l i khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa và các l i khai c trong hồ sơ thấy phù h p với các chứng cứ khác đ đư c thu thập c trong hồ sơ vụ án và đ thực hiện là đ ng trình tự và phù h p với uy định pháp luật.
- Căn cứ bản kết luận giám định số: 113/KL-KTHS ngày 2 /01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận:
+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 t i ni lông thu giữ của bị cáo Lê Tuấn P gửi giám định (mẫu ký hiệu A1) là ma t y, loại Methamphetamine. Mẫu ký hiệu A1 c khối lư ng là 0,350 gam.
+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 16 đoạn ống nhựa không màu đư c hàn kín và 01 t i ni lông thu giữ của bị cáo Nguyễn Công T gửi giám định (mẫu ký hiệu A2) là ma t y, loại Methamphetamine, c khối lư ng là 2,15 gam; 01 cục chất rắn màu đ chứa trong 01 g i ni lông màu vàng gửi giám định (mẫu ký hiệu A3) là ma t y, loại Methamphetamine, c khối lư ng là 0,066 gam; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 g i ni lông gửi giám định (mẫu ký hiệu A4) là ma t y, loại Methamphetamine, c khối lư ng là 3,103 gam; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 t i ni lông gửi giám định (mẫu ký hiệu A5) là ma t y, loại Methamphetamine, có khối lư ng là , 61 gam. T ng khối lư ng ma tuý thu giữ của bị cáo Nguyễn Công T là 15,2 gam, loại Methamphetamine.
Hội đồng xét xử nhận định: Vào l c 13 gi 15 ph t, ngày 23/01/2025, tại nhà của bà Nguyễn Thị L (mẹ bị cáo P), tại: Khu phố , thị trấn Hà Lam, huyện T, tỉnh Quảng Nam, t công tác Công an huyện T phối h p Công an thị trấn Hà Lam, huyện T bắt uả tang bị cáo Lê Tuấn P đang cất giấu 01 túi ma t y, loại Methamphetamine c khối lư ng là 0,350 gam và dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma t y. Quá trình điều tra Lê Tuấn P khai nhận số ma t y trên bị cáo P mua của bị cáo Nguyễn Công T về để sử dụng thì bị bắt giữ. Trên cơ sở l i khai của bị cáo P, T công tác tiến hành khám xét khẩn cấp ch ở của bị cáo Nguyễn Công T thu giữ của Trư ng 15,2 gam ma t y, loại Methamphetamine và dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma t y. Bị cáo Trư ng khai nhận số ma t y trên bị cáo Trư ng mua của một ngư i c tài khoản acebook tên Hảo (không rõ nhân thân lai lịch) về bán lại kiếm l i và sử dụng, trong đ bị cáo đ bán cho Lê Tuấn P 02 lần đư c 1.000.000 đồng (một triệu đồng), số còn lại đang cất giữ thì bị bắt.
Đối chiếu với các uy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy c đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Công T đ phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma t y , tội phạm và hình phạt đư c uy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Lê Tuấn P đ phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma t y , tội phạm và hình phạt đư c y định tại điểm c khoản 1 Điều 24 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đ truy tố đối với các bị cáo là c căn cứ, đ ng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Hành vi phạm tội của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ: Ma túy là một loại chất kích thích, gây ảo giác, gây nghiện khi ngư i đ sử dụng thì khó mà dứt b . Để th a m n cơn nghiện, ngư i nghiện ma túy có thể bất chấp tất cả thủ đoạn nhằm để c ma t y để sử dụng, từ đ gây nên những mối nguy hiểm khác cho xã hội. Chính vì lẽ đ , Quốc Hội và Chính phủ chỉ đạo xử lý kiên quyết đối với các hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Luật hình sự cũng uy định mức hình phạt rất nặng đối với các hành vi này. Các bị cáo là những ngư i đ trưởng thành, các bị cáo biết rõ hành tàng trữ, mua bán, t chức sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị nhưng do muốn có ma túy và có tiền để sử dụng nhằm th a mãn cho nhu cầu của bản thân các bị cáo đ bất chấp tất cả, coi thư ng pháp luật, các bị cáo đ thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử phạt thật nghiêm với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
- Xét nhân thân của các bị cáo Nguyễn Công T, Lê Tuấn P đều xuất thân là nhân dân lao động, hoàn cảnh gia đình kh khăn nhất định. Bị cáo T có v và các con còn nh . Bị cáo P cha đ chết, mẹ nuôi các em và gia đình rất kh khăn. Trong uá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo P đ khai báo với cơ uan điều tra trong việc phát hiện tội phạm đối với Bị cáo T. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nhân thân không tốt. Hội đồng xét xử thống nhất với uan điểm của Viện kiểm sát áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Xét hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, Hội đồng xét xử thống nhất với uan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện T cần phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một th i gian nhất định để các cơ uan chức năng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.
Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T. Căn cứ các Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Tuyên tịch thu tiêu hủy những dụng cụ mà các bị cáo Nguyễn Công T và Lê Tuấn P dùng sử dụng, ma bán ma t y gồm:
- 01chai nhựa trên nắp chai c đục 02 l tròn gắn 01 đoạn ống nhựa và 01 dụng cụ thủy tinh c một đầu hình phình bầu (còn gọi là n thủy tinh); 02 bật lửa gas; 01 đoạn ống thủy tinh gấp tạo khuỷu c một đầu phình bầu (n thủy tinh); 01 bật lửa gas c gắn đầu đèn tự chế; 02 ống h t nhựa; 01 bật lửa; 01cái kẹp y tế bằng kim loại; 01 cái kéo; 01 bình nhựa c nắp đục thủng hai l , một l gắn 01 dụng cụ thủy tinh (bị bể phần phình bầu), một l gắn 01 ống h t nhựa; 01 lọ thủy tinh c nắp bị đục thủng hai l , một l gắn 01 ống thủy tinh; 01 cân điện tử.; 03 sim điện thoại số: 0347.047.266; 0876.370.874 và 0932.430.028;
- Thu tiêu hủy số ma t y còn lại sau giám định trong phong bì đ niêm phong.
2. Tuyên tịch thu sung công uỹ Nhà nước các điện thoại mà các bị cáo dùng để liên lạc trong việc phạm tội gồm: 01 điện thoại di động loại cảm ứng hiệu Redmi note 13 Pro 5G của bị cáo Nguyễn Công T; 01 điện thoại di động hiệu Redmi của bị cáo Lê Tuấn P.
3. Tuyên truy thu của bị cáo Nguyễn Công T số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) do thu l i bất chính về hành vi mua bán ma t y cho bị cáo Lê Tuấn P để sung vào công uỹ Nhà Nước.
4. Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Nguyễn Công T số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) để đảm bảo thi hành án.
Các vật chứng và số tiền trên đang đư c lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Những vấn đề liên uan trong vụ án: Đối với ngư i c tài khoản acebook tên Hảo bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Công T và ngư i xe ôm chở bị cáo Trư ng đi mua ma t y do Bị cáo T khai không rõ nhân thân lai lịch của những ngư i này nên các cơ uan tiến hành tố tụng không c cơ sở để xác minh xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột Phong) và cháu Lê Thị T2 Trang (em gái P) không biết việc P c tàng trữ ma t y trong nhà nên các cơ uan tiến hành tố tụng không xem xét xử lý là th a đáng.
Đối với tài khoản ví MOMO số tài khoản 0347047266 của bị cáo Nguyễn Công T ua kiểm tra còn số tiền nh 1.253 đồng (một nghìn hai trăm năm mươi ba đồng) nên không cần thiết phong t a cũng là th a đáng.
Về án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo uy định tại các Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 uy định về án phí, lệ phí tòa án;
Các bị cáo, ngư i lien uan đư c quyền kháng cáo theo uy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Công T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo: Lê Tuấn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng: Các điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Công T 09 (Chín) năm tù. Th i gian thụ hình đư c tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 23/01/2025.
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 24 ; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Lê Tuấn P 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Th i gian thụ hình đư c tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 23/01/2025.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự ;khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự ;
1. Tuyên tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01chai nhựa trên nắp chai c đục 02 l tròn gắn 01 đoạn ống nhựa và 01 dụng cụ thủy tinh c một đầu hình phình bầu (còn gọi là n thủy tinh); 02 bật lửa gas; 01 đoạn ống thủy tinh gấp tạo khuỷu c một đầu phình bầu (n thủy tinh); 01 bật lửa gas c gắn đầu đèn tự chế; 02 ống h t nhựa; 01 bật lửa; 01cái kẹp y tế bằng kim loại; 01 cái kéo; 01 bình nhựa c nắp đục thủng hai l , một l gắn 01 dụng cụ thủy tinh (bị bể phần phình bầu), một l gắn 01 ống h t nhựa; 01 lọ thủy tinh c nắp bị đục thủng hai l , một l gắn 01 ống thủy tinh; 01 cân điện tử; 03 sim điện thoại số: 0347.047.266; 0876.370.874 và 0932.430.028;
- Thu tiêu hủy số ma t y còn lại sau giám định trong bì đư c niêm phong.
2. Tuyên tịch thu sung công uỹ Nhà nước gồm: 01 điện thoại di động loại cảm ứng hiệu Redmi note 13 Pro 5G; 01 điện thoại di động hiệu Redmi.
3. Tuyên truy thu của bị cáo Nguyễn Công T số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) sung vào công uỹ Nhà Nước.
4. Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Nguyễn Công T số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) để đảm bảo thi hành án.
Các vật chứng và số tiền trên đang đư c lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Áp dụng các Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 uy định về án phí, lệ phí tòa án;
M i bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trư ng h p bản án đư c thi hành theo uy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án, ngư i phải thi hành án có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo uy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đư c thực hiện theo uy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo đư c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngư i có quyền l i và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đư c tống đạt h p lệ để xin Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các cơ uan tiến hành tố tụng; - Những ngư i tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu bộ phận HS;. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Đặng Phùng Thành |