vanban.org

Bản án 40/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Đức H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2025/TLST - HS ngày 05/6/2025 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST
Ngày 24-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Minh Đức và ông Trần Xuân Phong.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Giang Yên - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Lê Đức H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2005 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Duy H và bà Đỗ Thị H1; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 14/4/2025, chuyển tạm giam từ ngày 23/4/2025 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 14/4/2025, tại tại khu vực cánh đồng thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Nam phối hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang Lê Đức H - sinh năm 2005, trú tại thôn A, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định, đang bán trái phép 01 túi nilon màu trắng có kích thước (7x11)cm, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ, một mặt có in chữ “viên ngậm BỔ PHẾ NAM HÀ” màu đỏ, bên trong có chứa các sợi thực vật khô màu nâu (Nghi là ma túy dạng cỏ) cho một người nam thanh niên (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) với giá 300.000 đồng. H đã nhận số tiền 300.000 đồng của người nam thanh niên nhưng chưa kịp giao túi nilon nêu trên cho người này thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ, H liền thả túi nilon đang cầm trên tay xuống đường, song lực lượng Công an đã kịp thời phát hiện thu giữ; người nam thanh niên lợi dụng sơ hở điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Qua đấu tranh tại chỗ, H khai nhận các sợi thực vật khô màu nâu bên trong 01 túi nilon lực lượng Công an đã thu giữ của H là ma túy dạng cỏ Tobaco. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Đức H, về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” .

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:

- Thu giữ tại nền đường ngay vị trí Lê Đức H đang đứng 01 túi nilon màu trắng có kích thước (7x11)cm, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ, một mặt có in chữ “viên ngậm BỔ PHẾ NAM HÀ” màu đỏ, bên trong túi có chứa các sợi thực vật khô màu nâu, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT01.

- Thu giữ trong lòng bàn tay trái Lê Đức H đang cầm số tiền 300.000 đồng, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT02.

- Thu giữ của Lê Đức H 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu IPHONE, màu xanh, tên máy Iphone 12 Pro Max, có số IMEI: 350981860003786, mặt sau điện thoại có nhiều vết nứt, rạn vỡ; bên trong lắp 01 sim điện thoại Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra phần điện máy bên trong; được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT03.

- Tạm giữ của Lê Đức H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, đeo BKS: 18D1-68249 (Bút lục số 09).

Quá trình điều tra, Lê Đức H khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 14/4/2025, H đang ở nhà tại thôn A, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định thì tài khoản Zalo có tên “Lục Tiểu Phụng” nhắn tin vào tài khoản Zalo của H có tên “Cố Gắng” với nội dung hỏi mua của H 300.000 đồng tiền ma túy dạng cỏ Tobaco. H đồng ý và hẹn người này giao dịch mua bán ma túy vào khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực cánh đồng thuộc xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, H đi ra khu vực lán để xe nhà H, lấy gói ma túy cỏ Tobaco là 01 túi nilon màu trắng có kích thước (7x11)cm, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ, một mặt có in chữ “viên ngậm BỔ PHẾ NAM HÀ” màu đỏ, bên trong có chứa các sợi thực vật khô màu nâu; bỏ vào túi quần phía trước bên phải H đang mặc rồi điều khiển xe mô tô BKS: 18D1-682.49 đi đến khu vực cánh đồng thuộc xã T, huyện B để bán ma túy cho người hỏi mua như đã hẹn. Đến nơi, H gặp 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô (H không nhớ biển kiểm soát) đang đứng một mình nên lại gần hỏi: “Anh lấy ma túy cỏ Tô à”. Người thanh niên trả lời: “Ừ” rồi lấy từ trong người ra số tiền 300.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng) đưa cho H. H cầm lấy số tiền của người nam thanh niên đưa trong lòng bàn tay trái, rồi lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng có kích thước (7x11)cm, miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ, một mặt có in chữ “viên ngậm BỔ PHẾ NAM HÀ” màu đỏ, bên trong có chứa các sợi thực vật khô màu nâu nhưng chưa kịp giao cho người này thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Do hoảng sợ, H thả túi nilon xuống mặt đường, ngay vị trí H đang đứng, song lực lượng Công an đã phát hiện thu giữ. Người thanh niên mua ma túy lợi dụng sơ hở điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Lực lượng Công an đã đưa H về trụ sở UBND xã T, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Đức H tại thôn A, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra không thu giữ được đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 3178/KL-KTHS ngày 18/4/2025 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận:

“- Tìm thấy các chất ma túy MDMB-4en-PINACA và MDMB - INACA trong mẫu sợi thực vật khô màu nâu (ký hiệu QT01) gửi giám định. Khối lượng mẫu là 5,159 gam. Hàm lượng MDMB-4en-PINACA: 1,4% và khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA:0 ,072 gam”.

- Hiện nay, C09 chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-INACA nên không giám định được hàm lượng và khối lượng chất ma túy MDMB-INACA có trong mẫu”.

Tại Bản kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 30/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Hưng Yên, kết luận: “Tìm thấy 2426 tin nhắn Zalo, chụp ảnh tin nhắn Telegram của mẫu điện thoại gửi giám định trong thời gian từ ngày 01/4/2025 đến ngày 14/04/2025”. Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hà Nam đã tiến hành kiểm tra dữ liệu trong 01 USB gửi kèm theo Kết luận giám định số 346/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Hưng Yên, kết quả không phát hiện tài liệu, hình ảnh, dữ liệu có liên quan đến vụ án hay hành vi vi phạm pháp luật khác.

Cáo trạng số 42/CT-VKS-MT ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam truy tố Lê Đức H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Đức H từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng và 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu xanh; tịch thu tiêu hủy vật chứng hoàn trả sau giám định, 01 sim điện thoại.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chiếc xe môtô đeo BKS 18D1-68249 là tài sản hợp pháp của chị, chị không biết việc bị cáo H sử dụng chiếc xe để thực hiện tội phạm về ma tuý, chị đã nhận lại chiếc xe môtô; chị không có đề nghị, yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức H đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 14/4/2025, tại khu vực cánh đồng thuộc địa phận thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Nam phối hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang Lê Đức H đang bán trái phép 5,159 gam sợi thực vật khô màu nâu, có tìm thấy 0,072 gam chất ma túy MDMB-4en-PINACA và chất ma túy MDMB - INACA (không xác định được khối lượng), cho một nam thanh niên (H không biết tên, tuổi, địa chỉ), với giá 300.000 đồng. H đã nhận số tiền 300.000 đồng của người thanh niên đưa, nhưng chưa kịp giao ma túy cho người này thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Do vậy, hành vi của Lê Đức H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có ông ngoại là Đỗ Văn P có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba ” được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam thấy bị cáo không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 300.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo H là tiền bị cáo có được do bán ma túy mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với số sợi thực vật khô màu nâu có tìm thấy các chất ma túy MDMB-4en-PINACA và MDMB - INACA hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu IPHONE thu giữ của bị cáo Hải là tài sản hợp pháp của Lê Đức H dùng vào việc liên lạc, trao đổi mua bán ma túy, do vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; tịch thu tiêu huỷ sim điện thoại lắp bên trong do không còn giá trị sử dụng.

- Về tài sản tạm giữ là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 18D1-68249: Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị H1 – sinh năm 1981 là mẹ đẻ của bị cáo H và chị H1 không biết việc H sử dụng chiếc xe để thực hiện tội phạm về ma tuý. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam đã trả lại chiếc xe cho chị H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

- Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ: Ngày 13/4/2025, H đặt mua 01 túi ma túy dạng cỏ Tobaco của một tài khoản mạng xã hội Telegram (H không nhớ tên tài khoản) với giá 100.000 đồng. Sau đó, H nhận được ma túy đựng trong 01 hộp bìa cát tông từ một người phụ xe khách (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) và thanh toán cho người này số tiền 150.000 đồng (gồm 100.000 đồng tiền mua ma túy và 50.000 đồng tiền cước xe). Sau khi trao đổi mua bán ma túy, H đã xóa tin nhắn và tài khoản Telegram với người bán ma túy, H không nhớ biển kiểm soát xe khách đã giao ma túy cho H. Ngoài lời khai của Lê Đức H, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác, nên Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hà Nam không có căn cứ để điều tra, làm rõ người đã bán ma túy cho Lê Đức H, cũng như nguồn gốc số ma túy đã thu giữ của H.

- Đối với người nam thanh niên đã mua ma túy dạng cỏ Tobaco của Lê Đức H, quá trình điều tra H khai nhận, H không biết tên, tuổi, địa chỉ của người nam thanh niên; người này khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m70, khi gặp H mua ma túy, người thanh niên mặc quần áo dài, bịt kín mặt nên H không nhận dạng được. Đối với tài khoản Zalo có tên “Lục Tiểu Phụng” đã nhắn tin cho Lê Đức H hỏi mua ma túy dạng cỏ Tobaco; Cơ quan điều tra đã kiểm tra, xác minh, song không xác định được thông tin người dùng tài khoản Zalo trên. Ngoài lời khai của Lê Đức H, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hà Nam không có căn cứ để điều tra, làm rõ nhân thân, lai lịch người đã mua ma túy của Lê Đức H.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Đức H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động và số tiền 300.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy số ma túy MDMB-4en-PINACA và MDMB - INACA là vật chứng hoàn trả sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 3178/KL-KTHS và 01 sim.

(Tình trạng vật chứng được xác định theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Nam cùng Ủy nhiệm chi ngày 06/6/2025 của Công an tỉnh Hà Nam).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Đức H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ