vanban.org

Bản án 40/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì màu trắng niêm phong vụ số 09/1, 09/2 ngày 19/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu, có chữ ký của Thượng tá Nguyễn D, Võ Thanh H; 01 khẩu trang màu đen. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu xám, số Imei 35308… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Mua bán trái phép chất ma túy”, - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST
Ngày 29-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Thanh Hiển.

2. Ông Trần Đình Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12

- Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Điểm – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2025/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần V, sinh năm: 2003 tại Bà ịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 46 N, khu phố N, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là khu phố N, xã N, thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc L, sinh năm: 1974 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1975; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có hai anh em.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 15/12/2024, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu bán ma túy cho người khác để kiếm lời nên khoảng 16 giờ ngày 24/10/2024, Trần V khai nhận có liên hệ với người tên M (V1 quen biết M trong một lần đi tiệc sinh nhật tại một quán bar trên địa bàn thành phố V (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh) nên V1 không rõ nhân thân, lai lịch qua T1 hỏi mua 100 gam ma túy dạng khay, M báo cho V giá tiền bán ma túy là 47.000.000 đồng/100 gam. Nhưng do hiện tại không đủ số lượng V mua nên M chốt giá bán ma túy là 45.000.000 đồng và yêu cầu Vủ chạy qua khu vực thành phố V (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh) theo vị trí M gửi để V trả tiền trước cho M rồi hôm sau sẽ liên hệ Vủ giao ma túy, V đồng ý. Khoảng hơn 20 giờ ngày 25/10/2024, M gọi cho V qua T1 hẹn V đến khu vực sau lưng Bệnh viện B1, phường L, thành phố B (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Khi V đến khu vực đã hẹn, M chụp hình chỗ để ma túy ở gốc cây cho V biết để đến lấy. Theo chỉ dẫn của M, V đã nhận 01 hộp giấy kích thước khoảng 10 x5 cm, bên trong chứa 02 gói nylon, dạng túi zip, chứa ma túy dạng khay với khối lượng khác nhau.

Sau khi mua được ma túy từ M, V mang ma túy về cất giấu dưới hộc bàn trong phòng ngủ của V. Khi có người hỏi mua ma túy, V tự chiết ma túy từ gói nylon dạng túi zip nhỏ ra bỏ vào vỏ bao nylon thuốc lá Saigon rồi hàn lại, giao cho người mua. Đến 0 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, một người đàn ông tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) liên hệ với V qua T1 hỏi mua nửa hộp 5 ma túy dạng khay, V báo giá bán ma túy là 1.800.000 đồng. Sau khi Đại đồng ý, V hẹn Đ đến trước khách sạn G, số A đường B, phường P, thành phố B (nay là số A đường B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) để giao nhận ma túy. Khi V đang chờ để giao ma túy cho Đ thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 01 gói ma túy chứa bên trong 01 khẩu trang màu đen do V vừa vứt xuống.

Qua xét nghiệm nhanh chất ma tuý, kết quả V dương tính với ma túy, loại Ketamine. Khám xét khẩn cấp nơi ở của V tại số D N, khu phố N, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là số D N, khu phố N, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh), thu giữ: 02 gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh, không màu trong suốt, V khai nhận là ma túy dạng khay của V tàng trữ với mục đích bán cho người khác để kiếm lời.

Ngoài ra, qua làm việc, Trần V còn khai nhận trước khi bị bắt, V đã 02 lần bán ma túy cho B, T2 (không rõ nhân thân lai lịch), cụ thể:

- Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 10/11/2024, B liên hệ với V qua facebook hỏi mua nửa hộp 5 ma túy dạng khay, V1 đồng ý bán ma túy với giá 2.000.000 đồng và giao ma túy cho B trong một quán bar (không rõ tên quán) trên địa bàn thành phố V và nhận tiền mặt từ B.

- Lần thứ 2: Khoảng 10 giờ ngày 12/11/2024, T2 liên hệ với V qua facebook hỏi mua nửa hộp 5 ma túy dạng khay, V1 đồng ý bán ma túy với giá 2.000.000 đồng và giao ma túy cho T2 trong một quán bar (không rõ tên quán) trên địa bàn thành phố V và nhận tiền mặt từ T2.

Tuy nhiên, xét thấy ngoài lời khai của V, hiện không có chứng cứ nào khác để chứng minh việc V đã bán ma túy cho B và T2 vào 02 ngày 10/11/2024 và 12/11/2024 nên không có cơ sở để xử lý V về tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại Kết luận giám định số 09/KL-KTHS-MT ngày 19/12/2024 của Phòng PC09 Công an tỉnh B: (Bút lục 44).

- Mẫu A1 có khối lượng 1,3808 gam, là ma túy, loại Ketamine.

- Mẫu A2 có khối lượng 79,7170 gam, là ma túy, loại Ketamine.

* Vật chứng thu giữ và xử lý:

- 02 phong bì màu trắng niêm phong vụ số 09/1, 09/2 ngày 19/12/2024 của Phòng K- Công an tỉnh B; 01 khẩu trang màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu xám, số Imei 353083963955017.

Hiện số vật chứng trên, Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh để lưu giữ, chờ xử lý.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 138/CT-VKS-KV12 ngày 06/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần V từ 11 năm 06 tháng đến 12 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Đối với 02 phong bì màu trắng niêm phong vụ số 09/1, 09/2 ngày 19/12/2024 của Phòng K- Công an tỉnh B; 01 khẩu trang màu đen, có liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu xám, số I 353083963955017, bị cáo dùng liên lạc mua ma túy nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, tại khu vực trước khách sạn G, số A đường B, phường P, thành phố B (nay là số A đường B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh), Trần V bị bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, qua giám định có khối lượng 1,3808 gam, loại Ketamine mà V giấu trong 01 khẩu trang màu đen nhằm mục đích để bán cho một người tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch). Đồng thời, qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của V tại số D N, khu phố N, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà ịa - Vũng Tàu (nay là số D N, khu phố N, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh) thu giữ 02 gói ma túy, qua giám định có khối lượng 79,7170 gam là ma túy, loại Ketamine mà V tàng trữ nhằm mục đích để bán cho người khác. Tổng khối lượng ma túy mà V tàng trữ để bán lại cho người khác là 81,0978 gam là ma túy, loại Ketamine. Hành vi của bị cáo Trần V đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức, biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, biết rõ tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần tuyên một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với 02 phong bì màu trắng niêm phong vụ số 09/1, 09/2 ngày 19/12/2024 của Phòng K- Công an tỉnh B; 01 khẩu trang màu đen, có liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu xám, số I 353083963955017, bị cáo dùng liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với một người tên M (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho V, một người tên Đ, B và T2 (đều chưa rõ nhân thân, lai lịch) liên hệ để mua ma túy của V, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh, điều tra xử lý theo quy định do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần V 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì màu trắng niêm phong vụ số 09/1, 09/2 ngày 19/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu, có chữ ký của Thượng tá Nguyễn D, Võ Thanh H; 01 khẩu trang màu đen. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu xám, số Imei 353083963955017.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 20/BB-THADS(12) ngày 08/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh). Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (29/8/2025) bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ