- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHAN MINH T CĐP - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phan Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Hà Anh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 14 -5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Phượng;
2. Ông Trần Chí Tâm.
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Xuân Cường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Hào - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực IX, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Phan Minh T, sinh ngày 29-8-2002 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Minh V và bà Phan Thị T1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt quả tang ngày 30-7-2024, tạm giữ từ ngày 31-7-2024 đến ngày 08-8-2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.
2. Hà Anh K, sinh ngày 24-8-2005; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn A và bà Trương Thị S; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt quả tang ngày 30-7-2024, tạm giữ từ ngày 31-7-2024 đến ngày 08-8-2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Minh T, Hà Anh K là những người sử dụng ma túy. Để có ma túy sử dụng, từ ngày 28-7-2024 đến ngày 30-7-2024 T gặp người tên Lê Thanh S1 (tên thường gọi là B) tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh mua ma túy tổng cộng 04 lần với mục đích mang về để sử dụng và bán cho người khác. Cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: khoảng giữa tháng 7-2024 (không nhớ rõ ngày), T mua của S1 01 bịch ma túy sau đó bán cho Trương Minh T2, sinh năm 2006, nơi cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với số tiền 200.000 đồng tại nhà của T2.
- Lần 2: ngày 27-7-2024, T tiếp tục bán cho T2 01 bịch ma túy với số tiền 200.000 đồng tại nhà T2.
- Lần 3: ngày 29-7-2024, T bán 01 bịch ma túy cho Nguyễn Vân A1, sinh năm 1993, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với số tiền 270.000 đồng tại quán cà phê ở khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Lần 4: ngày 30-7-2024, Nguyễn Vân A1 hùn tiền với Chàm D, sinh năm 1998, ngụ ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh mỗi người 150.000 đồng, sau đó Vân A1 gọi điện thoại cho T mua ma túy với số tiền 300.000 đồng, thì T đồng ý. Sau đó, Vân A1 đi cùng Chàm D đến nhà T để mua ma túy. Tại đây, T đưa Hà A Kiệt số tiền 200.000 đồng và kêu đến gặp Vân A1 và C D lấy thêm 300.000 đồng rồi đến nhà của S1 (B) mua ma túy về bán cho Vân A1 và Chàm D. Sau đó, K điều khiển xe mô tô đến nhà của S1 mua 01 đoạn ống nhựa bên trong chứa chất ma túy mang về nhà T bán cho Vân A1 và Chàm D thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Khi bán ma túy cho Vân A1, T và K biết rõ Vân A1 và Chàm D hùn tiền với nhau và cùng đến nhà của T để mua ma túy.
Ngoài ra, khoảng 15 giờ ngày 30-7-2024, Giang Gia H, sinh ngày 30-5-2007, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đến nhà T để tìm ma túy sử dụng. Do không có ma túy nên T liên hệ với S1 hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng. T đến nhà của S1 mua 200.000 đồng ma túy mang về nhà đổ vào bộ dụng cụ sử dụng và cùng với H sử dụng. Cùng lúc này Trần Minh T3 và Nguyễn Văn T4 đến nhà của T để xin ma túy sử dụng nhưng T không cho. Sau khi T và H sử dụng ma túy được khoảng 10 phút thì bị Công an huyện T đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
* Kết quả trưng cầu giám định: tại Bản kết luận giám định số 1504/KL-KTHS, ngày 15-8-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:
- Mẫu bên trong 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy gồm 01 ly thủy tinh được gắn với đoạn đầu chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có đục 02 lỗ gắn một ống thủy tinh và một ống nhựa (kí hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,1663 gam;
- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M2) bên trong 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0651 gam.
* Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể: tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Trạm Y tế thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh ngày 30-7-2024 đối với T, K, Trương Minh T2, Nguyễn Vân A1, Chàm G, Giang Gia H, Trần Minh T3 và Nguyễn Văn T4, thể hiện tất cả đều dương tính với ma túy.
* Kê biên tài sản: T và K không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không kê biên.
Bản cáo trạng số: 26/CT-VKSTB, ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phan Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định điểm b, c khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hà Anh K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b, c khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hà Anh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:
1.1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phan Minh T từ 08 (tám) năm tù đến 09 (chín) năm tù.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phan Minh T từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt cả hai tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo T từ 15 (mười lăm) năm tù đến 17 (mười bảy) năm tù.
1.2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hà Anh K từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận.
Các bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo thể hiện như sau:
Từ giữa tháng 7-2024 đến ngày 30-7-2024, trên địa bàn xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, T đã 04 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho nhiều người với số tiền 970.000 đồng, K giúp sức cho T mua bán trái phép chất ma túy 01 lần với số tiền 200.000 đồng. Trong đó, có 01 lần T và K bán ma túy cùng lúc cho 02 người. Tại Bản kết luận giám định số 1504/KL- KTHS, ngày 15-8-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận tinh thể rắn màu trắng bên trong bộ dụng cụ sử dụng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1663 gam và tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0651 gam; khối lượng ma túy trên là của T dùng để bán và sử dụng trái phép.
Hành vi của các bị cáo Phan Minh T, Hà A Kiệt đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 30-7-2024 các bị cáo T và K cùng lúc bán ma túy cho hai người, nên bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng hình phạt “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo T nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho người khác nên bị áp dụng thêm tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy, vào lúc 16 giờ 20 phút, ngày 30-7-2024 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo T thực hiện hành vi cung cấp ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho Giang Gia H, sinh ngày 30-5-2007 cùng sử dụng với bị cáo thì bị Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang, nên hành vi của T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Bản cáo trạng số 26/CT-VKSTB, ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố đối với các bị cáo và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
Đối với người tên B bán ma túy cho T và K, quá trình điều tra xác định được là Lê Thanh S1, sinh năm 1984, nơi cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, tuy nhiên hiện nay S1 không có mặt ở địa phương và không biết S1 đang ở đâu. Ngoài lời khai của T và K thì không có chứng cứ khác để chứng minh hành vi phạm tội của S1, nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành thông báo truy tìm S1, khi nào tìm được có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T, K, H, T3, T4, T2 và hành vi tàng trữ trái phép 0,0651 gam ma túy, loại Methamphetamine của Vân A1, Chàm D, Chủ tịch UBND xã T, huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, ma túy là loại chất độc dược gây nghiện, nên Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm việc trồng, mua bán, vận chuyển, sản xuất, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, mà trực tiếp là hoạt động mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời hành vi của các bị cáo còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo T tự thú ra các lần phạm tội trước ngày bị bắt quả tang, nên được áp dụng thêm tình tiết quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt.
Mức độ thực hiện tội phạm và hình phạt áp dụng: vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể. Tuy nhiên, bị cáo T là người giữ vai trò chính trong việc mua bán trái phép chất ma túy, là người liên hệ mua, bán ma túy cho nhiều người, đồng thời tổ chức cho người khác sử dụng ma túy, nên cần xử phạt mức án nghiêm khắc và cao hơn so với bị cáo K là người giúp sức cho bị cáo T bán ma túy 01 lần.
Xét thấy, các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vì động cơ, mục đích tư lợi cá nhân nên đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, do đó cần áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn đối các bị cáo và cả hai tội danh đối với bị cáo T, nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của cả hai tội danh đối với bị cáo T.
Các bị cáo không có tài sản bị kê biên, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh đã qua sử dụng của bị cáo T là vật chứng của vụ án, bị cáo sử dụng để liên lạc thực hiện tội phạm, còn giá trị sử dụng, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Vật chứng thu giữ liên quan đến việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy gồm: số lượng ma túy được hoàn lại sau giám định, bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 kéo kim loại màu bạc, 01 hộp quẹt ga và sim số 0352473722.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh đen, bị bể màn hình góc trên bên phải, gắn sim số 0364572800, đã qua sử dụng của bị cáo K không liên quan đến việc thực hiện tội phạm, cần trả lại cho bị cáo, nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Số tiền Việt Nam 970.000 đồng bị cáo T có được từ việc mua bán trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo chưa giao nộp nên cần truy tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo T và K là người bị kết án nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Phan Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Hà Anh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phan Minh T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phan Minh T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự: tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phan Minh T phải chấp hành chung cho cả hai tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là 15 (mười lăm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30-7-2024.
1.2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hà Anh K 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30-7-2024.
2. Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, số imel: 869474053774474 đã qua sử dụng của bị cáo Phan Minh T.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng, gồm:
+ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy và 0,1068 gam (không phẩy một không sáu tám gam) chất ma ma túy, loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1504/gói 1, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M và trợ lý giám định Nguyễn Thị Thùy D1, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T;
+ 01 (một) kéo kim loại màu bạc, 01 (một) hộp quẹt ga và sim số 0352473722.
- Trả lại cho bị cáo Hà A Kiệt 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh đen, bị bể màn hình góc trên bên phải, số imell: 860309051514192, gắn sim số 0364572800, điện thoại đã qua sử dụng, nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 03-3-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh).
- Truy tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Phan Minh T là 970.000 (chín trăm bảy mươi nghìn) đồng.
3. Về án phí: căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phan Minh T, Hà Anh K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP. HCM; - PKTNV- TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Cơ quan THAHS; - Phân trại tạm giam khu vực IX, tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS huyện Tân Biên; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh TN; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN; - Các bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Thúy |