- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn A S, phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn A S, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 16 tháng 01 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Ngoãn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn Phàn Pao và Ông Sùng A Dờ.
Thư ký phiên tòa: Ông Chảo Hò Sơn – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Phùng Văn Chử - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo: Tẩn A S; tên gọi khác: không có tên gọi khác; Sinh năm: 1973 tại huyện S n Hồ, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Kh ph 4, thị trấn S H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: trồng trọt; tr nh độ học vấn: 00/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tẩn Quẩy L , đã chết và con bà Tẩn Phấy O , đã chết; vợ: Tẩn Mý N , sinh năm 1968; con: ị c o c 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: không; tiền sự: không; Về nhân thân: Bị cáo đã 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định của UBND tỉnh Lai Châu năm 2005 và năm 2010, đến nay Bị cáo đã chấp hành xong các Quyết định trên; ị c o bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/9/2024, bị tạm giam từ ngày 17/9/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ cho đến nay; có mặt.
* Người làm chứng: chị Tẩn Mý Q, sinh năm: 1970; địa chỉ: bản Ph Sô L, xã Ph S L, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; vắng mặt.
* Người phiên dịch cho bị cáo: anh Tẩn Liều T , sinh năm 1990; địa chỉ: Kh ph 4, thị trấn S H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/9/2024, Tẩn A S đang ở nhà một mình tại Kh ph 4, thị trấn S H, huyện Sìn Hồ thì có Tẩn Mý Q, sinh năm 1970, trú tại bản Phăng Sô L, xã Ph S L, đến hỏi mua 200.000 đồng Heroine, S đồng ý. Do không có sẵn Heroine để bán, nên S bảo Q ở nhà đợi. Còn S một mình đi ra khu vực sân vận động thuộc khu phố 2, thị trấn Sìn Hồ và mua được của một người đàn ông không quen iết 01 g i Heroine, được gói ngoài bằng nilon màu hồng với gi 200.000 đồng. S mở gói Heroine ra bẻ lấy 01 cục nhỏ cầm trên tay phải, phần còn lại, S dùng mảnh nilon màu hồng gói lại như cũ, cất vào túi quần bên phải rồi đi về. Vào nhà, S đưa cục Heroine cho Q. Mua được Heroine, Q tự ý ngồi tại phòng khách nhà S, sử dụng Heroine bằng hình thức hít. Tẩn A S đi xuống bếp, mở g i Heroine được gói ngoài bằng nilon màu hồng, bẻ lấy một ít Heroine, cho vào mảnh giấy bạc để sử dụng, phần còn lại, S gói lại như cũ và cất vào túi quần bên phải đang mặc. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi Tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ đang làm nhiệm vụ tại Kh ph 4, thị trấn S H thì nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân tại nhà của Tẩn A S có hoạt động của tội phạm ma túy. Tổ công t c đã triển khai lực lượng tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ của Tẩn Mý Q 01 mảnh giấy bạc đã ị cháy xém và 01 bật lửa gas màu vàng, Tẩn Mý Q khai nhận vừa mua 01 cục Heroine của Tẩn A S vơi gi 200.000 đồng và đã sử dụng hết; tiến hành kiểm tra Tẩn A S phát hiện thu giữ 01 mảnh giấy bạc trên mặt có bám dính một ít Heroine đã ị than hóa một phần, 01 gói Heroine được bọc bằng mảnh nilon màu hồng và số tiền 200.000 đồng. Tại chỗ Tẩn A S khai nhận, đ là Heroine của S tàng trữ để sử dụng và ai hỏi mua thì bán kiếm lời, còn số tiền 200.000 đồng là tiền bán Heroine cho Tẩn Mý Q mà c . Trước sự việc nêu trên, Tổ công t c đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tẩn A S về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Kết luận gi m định số: 366, ngày 08/9/2024 của người gi m định tư ph p theo vụ việc x c định: gói chất bột màu trắng có khối lượng 0,13 gam và chất bột màu trắng đã ị than hóa một phần dính trên 01 mảnh giấy bạc có khối lượng 0,01 gam.
Tại bản kết luận gi m định số: 1072/KL - KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M1) và 01 mẫu chất bột màu trắng đã ị than hóa một phần (ký hiệu M2) gửi gi m định là ma túy, loại: Heroine.
Tại Bản cáo trạng số: 02/CT-VKSSH ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Tẩn A S, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Tẩn A S, phạm tội “Mua n tr i phép chất ma túy”. Về hình phạt: áp dụng khoản 1, Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tẩn A S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày ị c o, bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/9/2024. về hình phạt bổ sung: bị c o không c công ăn việc làm ổn định, thu nhập thấp và không làm việc trong các ngành nghề bị cấm hoạt động hoặc cấm đảm nhiệm nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc một mặt đã ị đốt cháy, 01 bật lửa gas màu vàng và 01 bật lửa gas màu tím (cũ đã qua sử dụng), đây là những vật chứng của vụ án do không còn giá tri sử dụng; tịch thu, nộp ngân s ch nhà nước: số tiền 200.000 đồng, gồm: 02 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng, có số seri lần lượt là: JD21485813 và UI 21153250 thu giữ của Tẩn A S. Đây là số tiền do bị cáo S phạm tội bán Heroine cho Tẩn Mý Q mà có; đối với 0,14 gam Heroine thu giữ của Tẩn A S, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã gửi toàn bộ đi gi m định, không hoàn lại mẫu vật sau khi gi m định nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; Về án phí: theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tẩn A S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của m nh như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của c c cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời nói sau cùng: Bị c o ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của bản thân nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đ nh và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm s t viên trong qu tr nh điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của m nh theo quy định tại Điều 37, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng tr nh tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng.
Đ nh gi chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, hành vi của bị cáo: tại phiên toà, bị cáo Tẩn A S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã thu thập đúng tr nh tự, thủ tục tố tụng hình sự; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử c đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/9/2024, tại nhà ở của mình thuộc Kh ph 4, thị trấn S H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tẩn A S đã n tr i phép cho Tẩn Mý Q 01 cục Heroine với gi 200.000 đồng. Ngoài ra, S còn tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroine, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời thì bị Tổ công tác Công an huyện Sìn Hồ phát hiện bắt quả tang.
Hành vi phạm tội mà bị cáo Tẩn A S đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo Tẩn A S là người c đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. Về nhân thân, bị cáo đã 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, theo Quyết định của UBND tỉnh Lai Châu vào năm 2005 và năm 2010, đến nay bị c o đã chấp hành xong các Quyết định nêu trên. Bị cáo Tẩn A S không lấy đ làm bài học để cải tạo, trở thành người công dân c ích cho gia đ nh và xã hội. Bị cáo Tẩn A S lại coi thường pháp luật, đã có hành vi lén lút, mua trái phép chất ma túy của một người không rõ lai lịch, cụ thể và bán trái phép cho Tẩn Mý Q 01 gói Heroine, để nhằm hưởng lợi số tiền bất chính là 200.000 đồng. Ngoài ra, Tẩn A S còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroine, mục đích sử dụng và bán kiếm lời thì bị Công an huyện Sìn Hồ phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo Tẩn A S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua n tr i phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự, với lỗi cố ý trực tiếp.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, p dụng điều khoản cũng như h nh phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng, về án phí đối với bị c o là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và phù hợp với nhân thân của ị c o nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong qu tr nh điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Tẩn A S thành khẩn khai o, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị c o là người dân tộc thiểu số, bị cáo không được đi học, không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế. Vì vậy, bị cáo Tẩn A S được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề trồng trọt và thu nhập không ổn định, gia đ nh c hoàn cảnh kh khăn. Do đ , Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc một mặt đã ị đốt cháy, 01 bật lửa gas màu vàng và 01 bật lửa gas màu tím (cũ đã qua sử dụng), đây là những vật chứng của vụ án do không còn giá tri sử dụng; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng, gồm: 02 tờ tiền polime mệnh gi 100.000 đồng, có số seri lần lượt là: JD21485813 và UI 21153250 thu giữ của Tẩn A S. Đây là số tiền do bị cáo phạm tội bán Heroine cho Tẩn Mý Q mà c ; đối với 0,14 gam Heroine thu giữ của Tẩn A S, Cơ quan Cảnh s t điều tra đã gửi toàn bộ đi gi m định, không hoàn lại mẫu vật sau khi gi m định nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tẩn A S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: theo quy định tại c c Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi bị c o cư trú: Thông qua vụ n này, đề nghị c c cơ quan, an, ngành, đoàn thể và chính quyền địa phương c c xã, thị trấn trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Cần nâng cao tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân. Tuyên truyền về tác hại của các chất ma túy để nhân dân hiểu biết và có ý thức chấp hành pháp luật, phối hợp với lực lượng phòng chống ma túy huyện ra soát, lập hồ sơ quản lý c c đối tượng nghiện và nghi nghiện ma túy trên địa bàn, lập hồ sơ đưa c c đối tượng nghiện ma túy vào các trung tâm cai nghiện, đồng thời tố giác tội phạm, góp phần vào công t c đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm để giữ gìn trật tự an ninh trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Các vấn đề liên quan:
(1) Về nguồn gốc số Heroine đã n cho Tẩn Mý Q và số Heroine bị thu giữ, Tẩn A S khai nhận mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch ở khu vực gần sân vận động huyện Sìn Hồ. Do S không biết rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này, nên Cơ quan điều tra không c căn cứ để điều tra, làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
(2) Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tẩn Mý Q: Ngày 06/12/2024, Công an huyện Sìn Hồ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 483/QĐ-XPHC đối với Tẩn Mý Q bằng hình thức cảnh c o là c căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
(3) Qu tr nh điều tra x c định, sau khi mua được Heroine của Tẩn A S, Tẩn Mý Q đã tự ý sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng khách nhà S, S không biết. Do đ , không đủ cơ sở để xử lý đối với Tẩn A S về hành vi Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; các điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa n, đối với bị cáo.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn A S, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A S: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. thời hạn tù tính từ ngày ị c o, bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/9/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3.Về xử lý vật chứng: tịch thu và tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc một mặt đã ị đốt cháy, 01 bật lửa gas màu vàng, 01 bật lửa gas màu tím đã qua sử dụng, đây là những vật chứng của vụ án do không còn giá tri sử dụng; tịch thu, nộp ngân s ch nhà nước số tiền 200.000 đồng, gồm: 02 tờ tiền polime mệnh gi 100.000 đồng, có số seri lần lượt là: JD21485813 và UI 21153250 thu giữ của Tẩn A S. Đây là số tiền do bị cáo phạm tội bán Heroine cho Tẩn Mý Q mà có.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 03/01/2025 giữa Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu).
4. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Tẩn A S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM HỘI ĐỒNG T
TH M Nơi nhận:
TH M PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- TAND tỉnh Lai Châu;
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- Sở Tư ph p tỉnh Lai Châu;
- VKSND huyện Sìn Hồ;
- CQCSĐT CA huyện Sìn Hồ;
- CQTHAHS CA huyện Sìn Hồ;
Phan Hồng Ngoãn
- CCTHADS huyện Sìn Hồ;
- bị c o; Lưu Hồ sơ vụ án. HỘI TH M NHÂN DÂN
TM HỘI ĐỒNG T
TH M
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư ph p tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Sìn Hồ; - CQCSĐT CA huyện Sìn Hồ; - CQTHAHS CA huyện Sìn Hồ; - CCTHADS huyện Sìn Hồ; - bị cáo; Lưu Hồ sơ vụ án. HỘI TH M NHÂN DÂN | TH M PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Hồng Ngoãn |