vanban.org

Bản án 40/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 09/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HS-ST
Ngày 09 – 01 - 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Việt

2. Ông Cầm Văn Tổ

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

LÒ VĂN Q. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 10/11/1974 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn S (đã chết) và bà Lò Thị S1, sinh năm 1934; Bị cáo có vợ là Lò Thị N, sinh năm 1978; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2001 và con nhỏ sinh năm 2005.

Tiền án: Tại Bản án số 76/2016/HSST ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã tuyên xử Lò Văn Q 08 năm 06 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Lò Văn Q chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2022, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt từ ngày 09/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/9/2024, Lò Văn Q đang ngủ trong nhà thì nghe thấy tiếng gọi ở sân, Q ra thì thấy là người đàn ông tên Pờ (Q không biết năm sinh, địa chỉ), Pờ đặt vấn đề bán Heroine cho Q do trước đó Q đã từng mua ma túy với Pờ 01 lần nên Q nhất trí mua ma túy để sử dụng và bảo Pờ cùng đi vào bếp nhà Q. Q lấy 400.000VNĐ đưa cho Pờ, Pờ nhận tiền và đưa cho Q 05 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh. Q cất số Heroine vừa mua được vào 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn, có nắp vặn xoáy và để cạnh đệm đang ngồi rồi nói chuyện với Pờ. Một lúc sau có Lò Văn C đi từ trên nhà xuống bếp ngồi nói chuyện với Q và Pờ, được khoảng 05 phút thì có Lò Văn D đến chơi. Q, Pờ, C, D đang ngồi chơi nói chuyện thì có tổ công tác Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn đến kiểm tra. Thấy tổ công tác thì Pờ và D bỏ chạy, C và Q vẫn ngồi tại chỗ. Tổ công tác tiến hành truy đuổi và khống chế D đưa về nhà Q, còn Pờ chạy thoát. Tổ công tác yêu cầu Q, D và C có ma túy thì tự giác giao nộp. Q đã tự giác lấy lọ nhựa có chứa ma túy ra giao nộp cho tổ công tác; qua kiểm tra đối với D và C không phát hiện có ma túy, C và D không biết việc Q có cất giấu ma túy. Tổ công tác công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn Q, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Ngày 10/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn Q. Kết quả: Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng trong 05 gói nilon màu xanh là 0,32gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu từ M1 đến M5.

Tại bản kết luận giám định số 1823/KL-KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

“Mẫu ký hiệu từ M1 đến M5 gửi giám định đều là ma tuý; Loại Heroine... Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,32gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,32gam; Loại Heroine... ”

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSMS ngày 24/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Lò Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Lò Văn Q từ 20 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn có nắp vặn xoáy đường kính 2cm, mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lò Văn Q tự bào chữa: Nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cơ cơ hội cải tạo bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Q khai nhận do bản thân nghiện chất ma túy, ngày 09/9/2024 bị cáo đã mua 05 gói Heroine với giá 400.000VNĐ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân; bị cáo bị tổ công tác Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 22 giờ 10 phút ngày 09/9/2024 của Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn; kết luận giám định số 1823/KL-KTHS ngày 11/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, kết luận tổng khối lượng ma túy thu giữ của Lò Văn Q là 0,32gam loại Heroine. Từ các chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lò Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

..."

Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình mua trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tình trạng mua bán, sử dụng trái phép các chất ma túy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 76/2016/HSST ngày 16/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã tuyên xử Lò Văn Q 08 năm 06 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Lò Văn Q chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2022, đến ngày 09/9/2024 vẫn chưa được xóa án tích mà Lò Văn Q đã cố tình tái phạm khi thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa xác định bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định; bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn có nắp vặn xoáy đường kính 2cm, 05 mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định: Xét thấy đây là vật dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu hủy.

Về vấn đề khác:

Đối với Lò Văn D, Lò Văn C: Qua điều tra xác định D, C không biết việc Lò Văn Q mua và tàng trữ ma túy nên không có căn cứ xử lý đối với D, C.

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Lò Văn Q khai mua của một người đàn ông tên Pờ (Q, Lò Văn D, Lò Văn C đều không biết năm sinh, địa chỉ), việc mua bán ma túy không có ai biết, chứng kiến. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án, cần chấp nhận.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lò Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 09/9/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn có nắp vặn xoáy đường kính 2cm, 05 mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu, vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/01/2025 giữa Công an huyện Mai Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lò Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/01/2025).

Cỡ chữ