vanban.org

Bản án 40/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Trúc L.

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Trúc L được ly hôn với anh Trần Kiêm L2. Về con chung: Chị Bùi Thị Trúc L và anh Trần Kiêm L2 có một con chung họ tên là Trần Hoàng Gia H1, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2018, hiện đang sống với chị L. Sau khi ly hôn, con chung giao cho chị L trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị L không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thị Trúc L ly hôn với anh Trần Kiêm L2."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Trúc L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ–ST
Ngày: 25-8-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hết

2. Ông Châu Văn Bảy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Trúc L, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Ấp P, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nay là ấp P, xã H, tỉnh Vĩnh Long. (Xin vắng mặt)

2/ Bị đơn: Anh Trần Kiêm L2, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Ấp N, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nay là ấp N, xã H, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn chị Bùi Thị Trúc L trình bày:

Chị và anh Trần Kiêm L2 do mai mối để tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 05 tháng 02 năm 2020 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Sau kết hôn vợ chồng chung sống ở ấp N, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre. Trong thời gian chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, nguyên nhân do anh L2 nhậu nhẹt, đập phá đồ đạc, bạo lực vợ con. Chị và anh L2 sống ly thân đã hai năm. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn vì không thể hàn gắn với anh L2 được nữa.

Về con chung: Chị và anh L2 có một con chung họ tên là Trần Hoàng Gia H1, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2018, hiện đang sống với chị. Chị yêu cầu sau khi ly hôn con chung giao cho chị trực tiếp nuôi, chị không yêu cầu anh L2 cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Chị và anh L2 không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết chia tài sản. Về nợ chung: Chị và anh L2 không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Trần Kiêm L2 vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà nên không có lời trình bày, không gửi văn bản nêu ý kiến và tài liệu, chứng cứ cho Toà án xem xét.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long trình bày quan điểm như sau:

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Trúc L; Về hôn nhân: Chị L được ly hôn với anh Trần Kiêm L2; Về con chung: Chị L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung họ tên là Trần Hoàng Gia H1, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2018, anh L2 không cấp dưỡng nuôi con do chị L không có yêu cầu; Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không giải quyết; Về án phí: Đương sự có nghĩa vụ chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Bùi Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung với bị đơn anh Trần Kiêm L2 nên xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị L cho rằng giữa chị và anh L2 không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân không hạnh phúc nên chị có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 68 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh L2 có nơi cư trú tại ấp N, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre, nay là ấp N, xã H, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào quan hệ pháp luật tranh chấp và nơi cư trú của bị đơn xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, nay là Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị L có yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L. Anh L2 đã được Toà án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L2.

Xét yêu cầu ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử nhận định: Chị L và anh L2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 05 tháng 02 năm 2020 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Do đó, hôn nhân của chị L và anh L2 là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Chị L cho rằng sau kết hôn vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, nguyên nhân do anh L2 nhậu nhẹt, đập phá đồ đạc, bạo lực vợ con. Chị và anh L2 sống ly thân đã hai năm và không thể hàn gắn được nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và mời anh L2 đến Toà tham gia hoà giải với chị L nhưng anh L2 không đến và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến hay phản đối yêu cầu ly hôn của chị L. Từ các cơ sở trên cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị L và anh L2 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị L ly hôn với anh L2 là phù hợp.

Xét về con chung: Chị L và anh L2 có một chung họ tên là Trần Hoàng Gia H1, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2018. Hội đồng xét xử xét thấy con chung hiện đang sống với chị L, con chung có nguyện vọng tiếp tục sống với mẹ, anh L2 không đưa ra yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Do đó, nhằm đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển ổn định của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi. Chị L không yêu cầu anh L2 cấp dưỡng cho con là ý chí tự nguyện của chị nên ghi nhận.

Xét về tài sản chung: Chị L trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết chia tài sản, anh L2 không đưa ra yêu cầu chia tài sản nên không giải quyết.

Xét về nợ chung: Chị L trình bày không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung, anh L2 cũng không đưa ra yêu cầu giải quyết nợ chung nên không giải quyết.

Xét về án phí: Chị L có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long là phù hợp với các nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Trúc L.

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Trúc L được ly hôn với anh Trần Kiêm L2.

Về con chung: Chị Bùi Thị Trúc L và anh Trần Kiêm L2 có một con chung họ tên là Trần Hoàng Gia H1, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2018, hiện đang sống với chị L. Sau khi ly hôn, con chung giao cho chị L trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh L2 cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết về chia tài sản, anh L2 không đưa ra yêu cầu chia tài sản nên không giải quyết.

Về nợ chung: Chị L trình bày không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung, anh L2 cũng không đưa ra yêu cầu giải quyết nợ chung nên không giải quyết.

Về án phí: Chị L có nghĩa vụ chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011711 ngày 17 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ