vanban.org

Bản án 40/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ng.

Về nuôi con chung: 1. Chị Nguyễn Thị Ng được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Minh K, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2021 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Ng và anh M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08-9-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Định - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2004; Nơi cư trú: Ấp ĐS2, thị trấn NS, huyện TS, tỉnh An Giang (nay là Ấp ĐS2, xã TS, tỉnh An Giang).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1999; Nơi cư trú: Ấp BHT, xã TTHA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp (nay là Khóm BHT, phường TL, tỉnh Đồng Tháp).

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 4 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày: Vào cuối năm 2019, chị và anh Nguyễn Văn M cưới nhau (không nhớ ngày tháng), hôn nhân tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn NS, huyện TS, tỉnh An Giang (nay là xã TS, tỉnh An Giang). Sau khi cưới, cả hai cùng sống chung với gia đình chị. Thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc, nhưng đến khoảng tháng 02 - 03 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm, sống chung không còn hạnh phúc và cả hai đã không còn sống chung hơn 02 tháng nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn M. Về nuôi con chung: Chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Minh K, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2021 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2023, yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Ng cưới nhau vào cuối năm 2019 (không nhớ ngày tháng), hôn nhân tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn NS, huyện TS, tỉnh An Giang (nay là xã TS, tỉnh An Giang). Sau khi cưới, cả hai cùng sống chung với gia đình vợ. Thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc, nhưng đến khoảng tháng 02 - 03 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tiền bạc trong cuộc sống, cũng có lúc cự cải nhau, cả hai đã không còn sống chung hơn 02 tháng nay. Nay chị Ng yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ, thương con. Về nuôi con chung: Nếu ly hôn thì anh đồng ý giao 02 con chung Nguyễn Minh K, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2021 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2023 cho chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng, còn việc cấp dưỡng thì có bao nhiêu thì anh cấp dưỡng bấy nhiêu; tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ các Điều 9, 14, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Văn M; Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Minh K, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2021 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2023 cho chị Ng nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con chị Ng không yêu cầu, anh M không tự nguyện cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết; Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đây là vụ kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Văn M là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng đối với anh Nguyễn Văn M, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Ng thì cuộc sống của chị và anh M không còn hạnh phúc từ tháng 02 năm 2025 do phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm, sống chung không còn hạnh phúc và anh M cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn về chuyện tiền bạc trong cuộc sống, cũng có lúc cự cải nhau, cả hai đã không còn sống chung. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Ng và anh M hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Ng là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Ng ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Văn M thỏa thuận được với nhau, chị Ng được tiếp tục chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung 02 con chung Nguyễn Minh K, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2021 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2023, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận giữa chị Ng và anh M hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận này và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Văn M cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ng. Cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Chị Nguyễn Thị Ng được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Minh K, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2021 và Nguyễn Minh Q, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2023.

2.2. Anh Nguyễn Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ đi tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0000953 ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, chị Ng không phải nộp thêm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ