- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị V và anh Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Võ Thị Hồng V, xử cho chị Võ Thị Hồng V và anh Lê Ngọc T được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14/5/2025 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trịnh Đoàn Hạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lài Thị Thu Hà
Ông K’Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lịch – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Hồng V, sinh năm: 1993
Địa chỉ: Đ, thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Anh Lê Ngọc T, sinh năm: 1996
HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Hiện nay đang chấp hành án tại: Đội 14, Phân trại 01 cục C Trại giam Đ, thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
(Tại phiên tòa, chị Võ Thị Hồng V có mặt, anh Lê Ngọc T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Võ Thị Hồng V trình bày: Chị Võ Thị Hồng V và anh Lê Ngọc T xây dựng gia đình với nhau năm 2019, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng 21/10/2019. Vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống và bất đồng trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên vợ chồng không chia sẽ được với nhau, anh T lại vi phạm pháp luật nên giữa chị V và gia đình anh T cũng không được hòa thuận. Đến nay chị V xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn được, tình cảm vợ chồng không còn nên chị V yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Chị Võ Thị Hồng V xác định có 01 con chung là Lê Ngọc Uyên N, sinh ngày 14/8/2019. Khi ly hôn chị Võ Thị Hồng V yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Lê Ngọc T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị Hồng V xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị V không còn yêu cầu gì khác.
2. Bị đơn anh Lê Ngọc T trình bày: Chị Võ Thị Hồng V và anh Lê Ngọc T xây dựng gia đình với nhau năm 2019, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 21/10/2019. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc nhưng đến năm 2023 anh T vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị V yêu cầu ly hôn thì anh T đồng ý giải quyết ly hôn theo yêu cầu của chị V.
Về con chung: Anh Lê Ngọc T xác định có 01 con chung là Lê Ngọc Uyên N, sinh ngày 14/8/2019. Khi ly hôn anh Lê Ngọc T đồng ý giao con cho chị V nuôi dưỡng. Anh Lê Ngọc T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Ngọc T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh T không còn yêu cầu gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt. Vì vậy, Tòa án triển khai đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, chị V giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T, yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Hồng V. Xử cho chị Võ Thị Hồng V và anh Lê Ngọc T được ly hôn. Giao con là Lê Ngọc Uyên N, sinh ngày 14/8/2019 cho chị Võ Thị Hồng V có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con. Các vấn đề khác không đặt ra để xem xét giải quyết. Buộc chị V phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, anh Lê Ngọc T vắng mặt nhưng anh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh T là phù hợp.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Hồng V và anh Lê Ngọc T xây dựng gia đình với nhau năm 2019, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng 21/10/2019 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án chị Võ Thị Hồng V và anh Lê Ngọc T đều xác định quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm và anh T phải đi chấp hành án. Chị V yêu cầu ly hôn, anh T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị V.
Xét thấy, anh T và chị V phát sinh mâu thuẫn là do anh chị không hợp nhau nên vợ chồng không chia sẽ được với nhau trong cuộc sống, anh T vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án nên mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn. Nay cả hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị V yêu cầu ly hôn thì anh T cũng đồng ý. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận đơn xin ly hôn của chị V, xử cho chị V và anh T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
. Về con chung: Chị Võ Thị Hồng V và anh Lê Ngọc T có một con chung là Lê Ngọc Uyên N, sinh ngày 14/8/2019. Tại phiên tòa, chị Võ Thị Hồng V yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh Lê Ngọc T phải cấp dưỡng nuôi con. Còn trong lời khai của mình anh T cũng đồng ý giao con cho chị V nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Lê Ngọc Uyên N hiện nay còn nhỏ, là con gái nên cần sự quan tâm, gần gũi của mẹ nhiều hơn. Hơn nữa bản thân anh T hiện nay đang phải đi chấp hành án nên anh T thống nhất giao con cho chị V nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Vì vậy, cần giao con là Lê Ngọc Uyên N cho chị V nuôi dưỡng. Nếu sau này anh T chấp hành án xong, anh T ổn định cuộc sống, đảm bảo điều kiện nuôi con thì có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị V xác định không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị Hồng V và anh Lê Ngọc T xác định không có nên anh chị không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
. Về án phí: Buộc chị V phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Võ Thị Hồng V, xử cho chị Võ Thị Hồng V và anh Lê Ngọc T được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con là Lê Ngọc Uyên N, sinh ngày 14/8/2019 cho chị Võ Thị Hồng V có trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Chị Võ Thị Hồng V phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Võ Thị Hồng V đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005309 ngày 27/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Chị Võ Thị Hồng V đã nộp đủ án phí
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/5/2025) chị Võ Thị Hồng V có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo. Riêng anh Lê Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu AV – HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trịnh Đoàn Hạnh Trang |