- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị N và anh L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Kim N và anh Nguyễn Khánh L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22/4/2025 “V/v yêu cầu ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH-TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Lƣ Quốc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Hồ Thị Hoa
2- Ông Nguyễn Tấn Hƣng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Thƣ. Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nam - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn và yêu cầu nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 56/2025/HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim N, sinh năm 1983. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 2, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Khánh L, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp MĐ, xã VKĐ, huyện AM, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 10 năm 2024 và lời khai khác trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Kim N trình bày và yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Khánh L tự tìm hiểu, quen biết và yêu thương nhau, được sự đồng ý của gia đình hai bên chị và anh L tiến tới hôn nhân, vợ chồng có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán ở địa phương vào năm 2014 nhưng vợ chồng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp nhau về mọi mặt nên thường xảy ra cự cãi. Tuy hai bên cũng cố gắng nhẫn nhịn và cho nhau nhiều cơ hội nhưng thời gian kéo dài mâu thuẫn vợ chồng ngày càng phát sinh nhiều thêm không tháo gỡ được, vợ chồng chị sống ly thân từ tháng 07/2024 đến nay. Nhận thấy hiện nay vợ chồng không hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu không công nhận vợ chồng giữa chị và anh L.
- Về con chung: Chị và anh L có 01 người con chung tên Nguyễn Khánh A, sinh ngày 30/12/2014, giới tính nam, hiện nay anh L đang nuôi dưỡng. Chị đồng ý giao con cho anh L tiếp tục nuôi, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh L không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Khánh L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim N.
Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Kim N đề nghị được vắng mặt khi xét xử vụ án và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với anh L.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) và Thư ký đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Về phần nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn và nuôi con, bị đơn có nơi cư trú trên địa giới hành chính huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Khánh L đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Khánh L.
Chị Nguyễn Kim N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy việc chị N đề nghị xét xử vắng mặt là trên cơ sở tự nguyện nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX chấp nhận đề nghị của chị N để xét xử vắng mặt chị.
Do trong vụ án, các đương sự đều vắng mặt nên HĐXX thực hiện việc xét xử theo trình tự được quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị N và anh L xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, được sự thống nhất của hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương vào năm 2014 nhưng vợ chồng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, có xác nhận của chính quyền địa phương về việc chị N và anh L không có đăng ký kết hôn. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh L là không hợp pháp.
Chị N yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh L, lý do vợ chồng chung sống không hòa hợp nhau về mọi mặt nên thường xảy ra cự cãi.
Theo thông tin chính quyền ấp Mương Đào cung cấp, trong quá trình chung sống với chị N, anh L mâu thuẫn giữa vợ chồng do không hòa hợp, do chị N đi làm nhưng anh L hay ghen tuông nên xảy ra mâu thuẫn với nhau, chị N và anh L đã ly thân khoảng 5-6 tháng nay. Con đang chung sống cùng với anh L.
Hội đồng xét xử nhận thấy chị N và anh L chung sống với nhau từ năm 2014 nhưng từ đó đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh L.
- Về con chung: Chị N và anh L có 01 người con chung tên Nguyễn Khánh A, sinh ngày 30/12/2014, giới tính nam, hiện nay anh L đang nuôi dưỡng. Chị N đồng ý giao con cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, con chung tên Nguyễn Khánh A từ khi chị N và anh L ly thân với nhau cho đến nay thì cháu sống cùng với anh L được anh L chăm sóc và nuôi dưỡng đến nay. Để đảm bảo môi trường sống ổn định cho con cũng như là nguyện vọng của cháu An là muốn sinh sống cùng với cha nên HĐXX ghi nhận ý kiến của chị N, thống nhất giao con chung tên Nguyễn Khánh A, sinh ngày 30/12/2014, giới tính nam cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng.
Do anh L không có yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không đề cập xem xét.
Chị N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung không ai có quyền ngăn cản nhưng không được lợi dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N trình bày là chị và anh L không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập xem xét.
Trong trường hợp, sau khi ly hôn có phát sinh tranh chấp về quyền tài sản và nợ trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim N phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo lai thu số 0005245 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Các Điều 14, 15, 53, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Kim N và anh Nguyễn Khánh L.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Khánh A, sinh ngày 30/12/2014, giới tính nam cho anh Nguyễn Khánh L tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Kim N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Kim N có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung không ai có quyền ngăn cản nhưng không được lợi dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Kim N xác định là chị và anh Nguyễn Khánh L không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
Trong trường hợp, sau khi ly hôn có phát sinh tranh chấp về quyền tài sản và nợ trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim N phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo lai thu số 0005245 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt. Báo cho các đương sự biết, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện, tỉnh; - CCTHADS huyện; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu HS, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣ Quốc Thịnh |