- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng NN - Nguyễn Hữu T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N2, về việc yêu cầu bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 liên đới thanh toán tổng số tiền là 465.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2025/DS-ST Ngày 15-5-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Đua
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Khánh Long
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Hoàng Khang, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc tranh hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N2. Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, TP. Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài P, chức vụ: Trưởng Phòng Kế hoạch – Kinh doanh Ngân hàng N2 – Chi nhánh thị xã V. Địa chỉ: Số D đường N, Khóm A, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số nhà C, ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị T1, sinh năm 1969 (vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Quốc S, sinh năm 1992 (vắng mặt)
+ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1993 (vắng mặt)
+ Chị Nguyễn Thị Yến N1, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số nhà C, ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 13/3/2020Ngân hàng N2 Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng với vợ chồng ông Nguyễn Hữu T2, bà Trần Thị T3 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202000318Theo Hợp đồng, Ngân hàng N2 Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cho ông T4 tiền 290.000.000 Mục đích vay: Nuôi tôm,suất 10,5năm; thanh toán trả lãi hàng tháng, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 12 tháng
Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HĐ/19/2015/HĐTC30/3/2015Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC13/3/2020ký kết giữa ông Nguyễn Hữu T5 Trần Thị TuyếtNgân hàng Nông nghiệp và N2 Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0629114 diện tích 13.8612 (loại đất: 1L, LnKthuộc thửa số 73 và 738 tờ bản đồ số 02tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Sóc Trăngcấp cho Hộ Nguyễn Hữu T6
Sau khi ký hợp đồng, Ngân hàng N2 Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng đã giải ngân cho ông Nguyễn Hữu T7 số tiền vay là 290.000.000Tuy nhiên, vợ chồng ông Tâmbà T8 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như hợp đồng tín dụng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng N2, gây khó khăn cho công tác thu hồi vốn và quá trình xử lý, thu hồi nợ của Ngân hàng N2.
Tính đến ngày hôm nay (ngày 15/5/2025), vợ chồng ông T, bà T8 còn nợ Ngân hàng N2 tổng số tiền là 465.859.178 đồng. Trong đó:
- Số nợ gốc: 290.000.000 đồng;
- Số nợ lãi trong hạn: 127.389.452 đồng;
- Số nợ lãi quá hạn: 48.469.726 đồng.
Nay Ngân hàng N2 yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 liên đới thanh toán cho Ngân hàng N2 toàn bộ số tiền là 465.859.178 đồng, trong đó: Nợ gốc là 290.000.000 đồng, lãi trong hạn là 127.389.452 đồng và lãi quá hạn 48.469.726 đồng.
Đồng thời, vợ chồng ông T, bà T1 còn phải liên đới tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 16/5/2025 cho đến khi vợ chồng ông T, bà T1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N2.
Trường hợp, vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị Tuyết K thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp tại thửa số 73, bản đồ số 02bảo đảm khoản vay của ông Nguyễn Hữu T theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 149/HĐ/19/2015/HĐTCMERGEFIELD "NGÀY_KÝ" 30/3/2015Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số MERGEFIELD "HĐSĐBS" 01/HĐTCĐSĐBS" 13/3/2020để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng N2 – Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng không yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp thuộc thửa 738, tờ bản đồ số 02, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0629114Ủy ban nhân dân huyện V (nay là thị xã V) cấp cho Hộ Nguyễn Hữu T6
Tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cần công khai chứng cứ và hòa giải ngày 14/3/2025, bị đơn ông Nguyễn Hữu T trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng N2 trình bày tại phiên hòa giải. Ông thừa nhận là ông và vợ của ông là bà Trần Thị T1 còn nợ Ngân hàng N2 đến ngày 14/3/2025 số tiền: 458.100.685 đồng. Trong đó: Số nợ gốc là 290.000.000 đồng, số nợ lãi trong hạn là 122.217.123 đồng và số nợ lãi quá hạn là 45.883.562 đồng.
Hiện nay, vợ chồng ông đang gặp khó khăn, do đó vợ chồng ông đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng ông thanh toán số nợ trên như sau:
Chậm nhất ngày 14/4/2025, vợ chồng ông liên đới trả cho Ngân hàng số tiền nêu trên là 458.100.685 đồng
Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyền cho ngân hàng không đồng ý và yêu cầu Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua xem xét đơn khởi kiện, lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn tại phiên tòa cho thấy: Việc nguyên đơn Ngân hàng N2 yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 phải liên đới thanh toán cho Ngân hàng N2 số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng là 465.859.178 đồng, trong đó: Nợ gốc là 290.000.000 đồng, lãi trong hạn là 127.389.452 đồng và lãi quá hạn 48.469.726 đồng là có cơ sở, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, vợ chồng ông T, bà T1 còn phải liên đới tiếp tục trả tiền lãi suất phát sinh kể từ ngày 16/5/2025 cho đến khi vợ chồng ông T, bà T1 thanh toán xong nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng là đúng theo quy định của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Việc nguyên đơn Ngân hàng N2 yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp tại thửa 73, tờ bản đồ số 02 tại hợp đồng thế chấp số: 149/HĐ/19/2015/HĐTC30/3/2015Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC13/3/2020thu hồi nợ trong trường hợp vợ chồng ông T, bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có địa chỉ tại khóm H, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng với quy định của pháp luật.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn có mặt, riêng đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.
Về yêu cầu thanh toán nợ gốc của nguyên đơn: Vào ngày 13/3/2020, vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 có ký hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202000318với Ngân hàng N2 để vay số tiền 290.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng. Cách thức thanh toán nợ là vợ chồng ông T, bà T1 phải trả lãi hàng tháng, trả nợ gốc một lần khi đến hạn. Xét thấy, các bên tiến hành giao kết Hợp đồng trên nguyên tắc tự nguyện, hình thức và nội dung của Hợp đồng tại thời điểm xác lập phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hợp đồng tín dụng trên có giá trị pháp lý và buộc các bên phải thực hiện theo đúng hợp đồng, vợ chồng ông T, bà T1 đã nhận đủ số tiền 290.000.000 đồng vào ngày 11/3/2021 sau khi ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, đến ngày 10/3/2022 là đợt cuối cùng để vợ chồng ông T, bà T1 thanh toán nợ gốc và lãi nhưng vợ chồng ông T, bà T1 không thực hiện, cho nên vợ chồng ông T, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV20200031813/3/2020 và vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 phải liên đới trả cho Ngân hàng số nợ gốc 290.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Về yêu cầu trả lãi của nguyên đơn: Ngân hàng N2 yêu cầu vợ chồng ông T, bà T1 có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền lãi trong hạn 127.389.452 đồng, thời hạn từ 11/3/2021 đến 15/5/2025 với mức lãi suất là 10,50%/năm của vốn gốc 290.000.000 đồng và nợ lãi quá hạn là 48.469.726 đồng, thời hạn từ ngày 11/3/2022 đến ngày 15/5/2025 với mức lãi suất là 150% của lãi suất trong hạn đối với vốn gốc 290.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng N3 có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này...”. Xét thấy, theo Hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD "SỐ_HĐTD" 7606-LAV202000318ngày 13/3/2020 thì Ngân hàng và vợ chồng ông T, bà T1 thỏa thuận lãi suất cho vay là 10,50%/năm, lãi suất quá hạn là 150%/năm của lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định của pháp luật nêu trên. Do đó, yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền vốn và tiền lãi vay mà vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng là 465.859.178 đồng, trong đó: Nợ gốc là 290.000.000 đồng, lãi trong hạn là 127.389.452 đồng và lãi quá hạn 48.469.726 đồng.
Về khoản tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm: Kể từ ngày 16/5/2025, vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 còn phải liên đới chịu khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký số 7606-LAV202000318ngày 13/3/2020 cho đến khi vợ chồng ông T, bà T1 trả hết nợ gốc.
Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Hợp đồng thế chấp tài sản số MERGEFIELD "HĐTC_SỐ" 149/HĐ/19/2015/HĐTC30/3/2015Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC13/3/2020 được ký kết giữa vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 với Ngân hàng N2 – Chi nhánh thị xã V, việc thế chấp tài sản đã được lập thành hợp đồng giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng với bên vay tài sản. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và được đăng ký giao dịch đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai. Đồng thời, tại Hợp đồng tín dụng (tại Điều 6 của hợp đồng), giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Hữu T đã thống nhất xử lý tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay tại hợp đồng thế chấp tài sản số: MERGEFIELD "HĐTC_SỐ" 149/HĐ/19/2015/HĐTC30/3/2015Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC13/3/2020Tại mục số 4.1 của các hợp đồng thế chấp nêu trên, các bên có thỏa thuận: “Bên A (bên cho vay) được xử lý tài sản để thu hồi nợ trong các trường hợp sau: Đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên B (bên vay) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ...”.
Tài sản thế chấp nêu trên là quyền sử dụng đất diện tích 5.681 m2 (loại đất: LnK), thửa số 73; tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0629114số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0043QSDĐ/ ngày 20/4/1996 của Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho hộ Nguyễn Hữu T đứng tên.
Đối với thửa đất được phân tích tại mục số [8], qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, cho thấy: Hiện trạng tài sản thế chấp không có thay đổi so với thời điểm nhận thế chấp. Tuy nhiên, đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 02 hiện là đất ao tôm do ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1, anh Nguyễn Quốc S, chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị Yến N1 đang quản lý. Cho nên khi Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo cho việc thanh toán nợ trong trường hợp vợ chồng ông T, bà T1 không có khả năng thanh toán nợ hoặc không thanh toán đầy đủ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đồng thời, cần buộc vợ chồng ông T, bà T1, anh S, chị N và chị N1 cùng giao quyền sử dụng đất nêu trên cho cơ quan có thẩm quyền để phát mãi là đúng theo quy định của pháp luật.
Từ những cơ sở phân tích tại các mục số [3], [4], [5], [6], [7], [8] và [9] nêu trên, xét thấy lời đề nghị của Vị Kiểm sát viên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí; bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 phải liên đới chịu số tiền là 750.000 đồng. Số tiền này do nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước, do đó vợ chồng vợ chồng ông T, bà T1 phải có trách nhiệm liên đới hoàn lại số tiền trên cho Ngân hàng N2.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng Dân sự; các điều 325, 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 94 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N2, về việc yêu cầu bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 liên đới thanh toán tổng số tiền là 465.859.178 đồng, trong đó: Nợ gốc là 290.000.000 đồng, lãi trong hạn là 127.389.452 đồng và lãi quá hạn 48.469.726 đồng của Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202000318ngày 13/3/2020.
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 liên đới thanh toán cho Ngân hàng N2 tổng số tiền 465.859.178 đồng (Bốn trăm sáu mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi chín ngàn một trăm bảy mươi tám đồng). Trong đó: Nợ gốc là 290.000.000 đồng, lãi trong hạn là 127.389.452 đồng và lãi quá hạn 48.469.726 đồng.
2. Kể từ ngày 16/5/2025, vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 còn phải tiếp tục liên đới chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà vợ chồng vợ chồng ông T, bà T1 phải tiếp tục liên đới thanh toán cho Ngân hàng N2 cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N2.
3. Về xử lý tài sản đảm bảo: Trường hợp vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị Tuyết K thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp sau:
Hợp đồng thế chấp tài sản số 149/HĐ/19/2015/HĐTC30/3/2015Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTCngày MERGEFIELD "NGÀY_KÝ_HĐSĐBS" 13/3/2020 được ký kết giữa vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 với Ngân hàng N2 – Chi nhánh thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 5.681 m2 (loại đất: LnK), thửa số 73; tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0629114số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0043QSDĐ/ ngày 20/4/1996 của Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho hộ Nguyễn Hữu T đứng tên.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang quản lý phần đất thế chấp bao gồm: anh Nguyễn Quốc S, chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị Yến N1 cùng bàn giao tài sản thế chấp cho cơ quan thi hành án để phát mãi theo quy định của pháp luật.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn Ngân hàng N2 không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.770.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005031 ngày 12/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 phải liên đới nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 22.634.367 đồng.
5. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Vợ chồng ông Nguyễn Hữu T, bà Trần Thị T1 phải liên đới chịu số tiền là 750.000 đồng. Số tiền này do nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước, do đó vợ chồng ông T, bà T1 phải có trách nhiệm liên đới hoàn lại số tiền trên cho Ngân hàng N2.
6. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp trên xem xét lại theo trình tự phúc thẩm.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu; - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Văn Đua |